Phát triển vận tải quân sự - 'Huyết mạch' trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại - Bài 1: Vận tải quân sự Việt Nam - huyền thoại và những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật quân sự
Công tác vận tải quân sự là khâu trung tâm của bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, nối liền hậu phương với tiền tuyến, nhằm vận chuyển, cơ động lực lượng, vật chất, binh khí kỹ thuật, bảo đảm cho chiến đấu thắng lợi.
Các nội dung chủ yếu của công tác vận tải quân sự gồm: Xây dựng lực lượng; tổ chức, khai thác mạng đường; lựa chọn phương thức, hình thức vận tải; phân cấp vận tải; tổ chức vận chuyển; bảo đảm, bảo vệ và chỉ huy, quản lý vận tải. Thực tiễn cho thấy, công tác vận tải quân sự Việt Nam là sự kết tinh của ý chí, trí tuệ, nghệ thuật tổ chức và sức mạnh toàn dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, nhiệm vụ công tác vận tải đòi hỏi rất cao, để đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, cần có chiến lược phát triển vận tải quân sự đồng bộ, hiện đại, gắn với tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân.
Bài 1: Vận tải quân sự Việt Nam - huyền thoại và những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật quân sự
Lịch sử dân tộc Việt Nam cho thấy, vận tải toàn dân được ví như "mạch máu" nuôi dưỡng, làm nên các chiến công. Từ các cuộc kháng chiến chống quân Tống, quân Nguyên Mông, quân Minh xâm lược, ông cha ta đã có tư duy lấy vận tải nhân dân làm nền tảng, vận tải quân sự làm nòng cốt, dựa vào địa hình, mạng đường và thế trận để vận chuyển bảo đảm cho tác chiến. Trong thời đại Hồ Chí Minh, giá trị truyền thống ấy được nâng lên thành nghệ thuật, sức mạnh của công tác vận tải toàn dân.
Sức mạnh vận tải toàn dân và sự phát triển của vận tải quân sự Việt Nam
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Giao thông vận tải muốn làm cho tốt thì phải dựa vào dân. Nơi nào làm công tác chính trị tốt và kết hợp với nhân dân tốt, thì nhân dân sẽ hết lòng, hết sức giúp đỡ, giao thông vận tải ở chặng đường ấy tốt, vùng ấy tốt.
Tư tưởng đó cho thấy sức mạnh vận tải trước hết bắt nguồn từ sức mạnh tổ chức và sức mạnh của nhân dân; phương tiện dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế con người, sự phối hợp và khả năng huy động tổng hợp sức mạnh nhân dân. Vì vậy, phải có sự lãnh đạo thống nhất, tổ chức chặt chẽ, phát huy được ý chí quyết tâm và sức mạnh toàn dân tham gia công tác vận tải.

Đoàn dân công Thanh Hóa vận chuyển chi viện cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu
Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là minh chứng điển hình cho vai trò của công tác vận tải. Khi chuyển từ phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, nhu cầu vật chất bảo đảm cho chiến dịch tăng rất cao. Trước tình hình đó, chúng ta đã huy động cả nước dồn sức cho mặt trận với sự tham gia của 261.000 dân công, thanh niên xung phong, gần 21.000 xe đạp thồ cùng hàng nghìn phương tiện vận tải khác như ngựa thồ, thuyền bè, xe cút kít... vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược vượt địa hình hiểm trở vào trận địa. Đó thực sự là kỳ tích, khẳng định sức mạnh của thế trận vận tải toàn dân, trong đó vận tải Quân đội làm nòng cốt, góp phần vô cùng quan trọng làm nên chiến thắng “chấn động địa cầu”.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thế trận vận tải toàn dân do vận tải quân sự làm nòng cốt được nâng lên tầm cao mới với những tuyến đường vận tải đã trở thành huyền thoại và tinh thần “xe chưa qua, nhà không tiếc”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Đường Trường Sơn là đỉnh cao của thế trận vận tải chiến lược. Lực lượng của Đoàn 559 làm nòng cốt đã xây dựng tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh, phát triển thành hệ thống liên hoàn gồm đường ô tô, đường ống xăng dầu, đường sông, đường giao liên, kho trạm và các lực lượng bảo đảm. Dưới “mưa bom bão đạn”, Bộ đội Vận tải, Công binh Trường Sơn và thanh niên xung phong vượt mọi gian khó, hiểm nguy, cống hiến quên mình theo tinh thần “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, “máu có thể đổ, đường không thể tắc”... Trong đó, vận tải cơ giới quân sự giữ vai trò chủ yếu, góp phần đặc biệt quan trọng bảo đảm chi viện, cơ động lực lượng, vật chất cho chiến trường.
Đường Trường Sơn không chỉ là một tuyến đường mà là thế trận vận tải chiến lược, hội tụ sự lãnh đạo tập trung, lực lượng nòng cốt và sự phối hợp của nhiều quân, binh chủng, ngành, địa phương; qua đó chứng minh vận tải có thể tạo thế, giữ thế và góp phần chuyển hóa thế chiến lược. Giá trị nổi bật của thế trận vận tải Trường Sơn còn ở khả năng thích ứng: Khi một tuyến bị đánh phá thì mở tuyến khác, khi phương thức vận chuyển gặp trở ngại thì chuyển đổi phương thức, khi điều kiện thay đổi thì tổ chức lại lực lượng và cung độ. Đó chính là tư duy xây dựng một hệ thống vận tải có chiều sâu, có dự phòng và có khả năng phục hồi mà công tác vận tải hiện nay cần tiếp tục kế thừa.

Xe vận tải quân sự đi trên đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ảnh tư liệu
Cùng với Đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh trên biển là sự kết nối vững bền của hai miền Nam-Bắc; biểu hiện sinh động của đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đường Hồ Chí Minh trên biển gắn với “Đoàn tàu không số”, những cán bộ, chiến sĩ kiên trung, mưu trí, sáng tạo, sẵn sàng hy sinh, đã đưa hàng trăm nghìn tấn vũ khí, vật chất chi viện cho những chiến trường mà đường Trường Sơn chưa thể vươn tới.
Cùng với tuyến đường bộ, đường biển, khi tuyến đường Trường Sơn và chiến trường thiếu xăng dầu nghiêm trọng thì quyết định mở tuyến đường ống xăng dầu là sự sáng tạo có ý nghĩa chiến lược. Bộ đội Trường Sơn đưa đường ống dã chiến vào vận hành, từng bước hình thành phương thức bảo đảm nhiên liệu mới, kịp thời cung cấp xăng dầu cho các đơn vị vận tải hoạt động, chi viện cho chiến trường đánh thắng.
Nếu như đường Trường Sơn là huyền thoại thì đường ống xăng dầu từ Bắc tới Nam là “huyền thoại của huyền thoại”. Từ kỳ tích đường ống xăng dầu có thể rút ra bài học kinh nghiệm về đổi mới phương thức bảo đảm, kết hợp lực lượng chuyên môn với công binh và lực lượng tại chỗ; xây dựng thế trận liên hoàn, phân tán, cơ động; phát huy trí tuệ, sáng tạo; chuẩn bị từ thời bình để chuyển nhanh sang thời chiến.

Xây dựng đường ống xăng dầu Trường Sơn. Ảnh tư liệu
Thế trận vận tải toàn dân và vai trò nòng cốt của vận tải quân sự trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược đã thể hiện rõ sự phát triển về quy mô, tốc độ, nghệ thuật tạo lập, phương thức tổ chức và khả năng cơ động lực lượng. Vận tải từng bước phát triển thành hệ thống chiến lược liên hoàn, kết hợp đường bộ, đường sông, đường ống và đường biển, chuyển hóa tiềm lực hậu phương thành sức mạnh chiến đấu để chiến thắng.
Mạng đường Trường Sơn với hơn 17.000km đường ô tô, khoảng 500km đường sông và gần 1.500km đường ống xăng dầu, đã vận chuyển chi viện cho các chiến trường hơn 1,5 triệu tấn hàng hóa, khoảng 5,5 triệu tấn xăng dầu. Những số liệu này khẳng định Trường Sơn không chỉ là tuyến đường giao thông vận tải chiến lược mà còn là hệ thống bảo đảm hậu cần chiến lược, trực tiếp góp phần duy trì sức mạnh chiến đấu. Có thể khẳng định, cùng với sức mạnh của hậu phương miền Bắc, sự chi viện quốc tế, tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Những bài học có ý nghĩa chiến lược về công tác vận tải quân sự
Thế trận vận tải toàn dân do vận tải quân sự làm nòng cốt với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến” và những tuyến đường vận tải đã trở thành huyền thoại đã để lại những bài học có giá trị chiến lược lâu dài: Trong điều kiện phải bảo đảm khối lượng vận chuyển lớn và liên tục, kịp thời, phải huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, lấy vận tải quân sự làm nòng cốt; chủ động, linh hoạt trong tổ chức lực lượng, xây dựng thế trận và phương thức vận tải phù hợp, hiệu quả để duy trì nhịp độ bảo đảm, thích ứng với những khó khăn, hiểm nguy của chiến tranh, địa hình phức tạp, thời tiết khắc nghiệt...
Lịch sử cho thấy vận tải trực tiếp nối liền hậu phương với tiền tuyến, chuyển hóa tiềm lực hậu phương thành sức mạnh chiến đấu. Vì vậy, phải tính toán vận tải ngay từ khâu chuẩn bị, gắn với ý định sử dụng lực lượng và quy hoạch, kế hoạch quốc phòng từ thời bình. Vận tải không thể chỉ giải quyết bằng những phương án ứng phó khi tình huống xảy ra, mà phải chuẩn bị trước về thế trận, lực lượng, phương tiện, tuyến đường, kho trạm, nhân lực và cơ chế huy động, bảo đảm linh hoạt đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ vận tải trong mọi tình huống.
Đặc biệt, từ thời bình phải xây dựng thế trận và lực lượng vận tải rộng khắp, phát triển vận tải quân sự đủ sức mạnh làm nòng cốt, kết hợp lực lượng chuyên trách với lực lượng tại chỗ, lực lượng Quân đội với nguồn lực vận tải của nền kinh tế, tạo thế trận vận tải toàn dân.

Cựu chiến binh Đoàn tàu không số kể chuyện truyền thống với thế hệ trẻ. Ảnh: NGUYỄN SÁNG
Xây dựng mạng đường vận tải liên hoàn, có chiều sâu, linh hoạt; kết hợp đường bộ, đường thủy (đường biển, đường sông), đường không, đường sắt, đường ống, kho trạm và cơ sở bảo đảm; gắn hệ thống giao thông với yêu cầu quốc phòng và chuẩn bị phương án sẵn sàng chuyển nhanh sang phục vụ quốc phòng, bảo đảm kịp thời khi có tình huống chiến tranh.
Từ dấu ấn “thần tốc” của vận tải quân sự trong các cuộc kháng chiến và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc (được thể hiện rõ nét nhất trong cơ động các binh đoàn chủ lực với quy mô lớn vào chiến trường) để kịp thời tạo ưu thế phát triển chiến đấu, chúng ta cần đầu tư xây dựng ngành vận tải quân sự hiện đại, có khả năng cơ động nhanh, bảo đảm vận chuyển số lượng lớn, liên tục, thông suốt; kết hợp khối lượng, tốc độ với sự linh hoạt, an toàn. Xây dựng thế trận vận tải toàn dân cũng phải hướng tới huy động nhanh, tổ chức nhanh, vận chuyển nhanh nhưng vẫn an toàn, liên tục, hiệu quả để bảo đảm cho tác chiến kịp thời, tạo sức mạnh giành thắng lợi.
(còn nữa)
