Phát triển vùng nguyên liệu bền vững - Hướng tới chuỗi giá trị toàn cầu (Bài 2): Những 'lỗ hổng' trong phát triển vùng nguyên liệu
Phát triển vùng nguyên liệu tập trung được xem là nền tảng để xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu chế biến và xuất khẩu. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, quá trình phát triển vùng nguyên liệu trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều 'lỗ hổng', nổi lên là tình trạng liên kết sản xuất thiếu bền vững và chất lượng nông sản còn thiếu sức cạnh tranh trên thị trường.

Phần lớn sản phẩm dứa gai của người dân xã Ngọc Liên do thương lái thu mua. Ảnh: Lê Hợi
Liên kết sản xuất nhiều “kẽ hở”
Hiện nay, vẫn còn tình trạng liên kết sản xuất chủ yếu dựa trên thỏa thuận miệng hoặc những bản hợp đồng đơn giản, thiếu tính ràng buộc pháp lý giữa người dân, doanh nghiệp hoặc qua khâu trung gian. Khi thị trường biến động, cả doanh nghiệp và nông dân đều có thể phá vỡ cam kết, khiến chuỗi liên kết dễ dàng đổ vỡ. Ông Lê Xuân Lâm, thôn 3, xã Hoằng Thanh, chia sẻ: “Trong vụ đông xuân 2024–2025, gia đình tôi thông qua trưởng thôn liên kết với Công ty CP Nông nghiệp quốc tế An Việt trồng 1ha khoai tây. Khi thu hoạch khoai tây thương phẩm được công ty thu mua ngay tại ruộng. Tuy nhiên, đến tháng 5/2026, gia đình tôi vẫn còn khoảng 30 triệu đồng tiền bán khoai tây chưa được thanh toán. Không riêng gia đình tôi mà nhiều hộ tham gia liên kết cũng chưa nhận đủ tiền. Vì vậy, vụ đông xuân 2025-2026, chúng tôi không tiếp tục liên kết trồng khoai tây nữa mà chuyển sang cây trồng khác”.
Từ thực tế này có thể thấy, khi liên kết thiếu chặt chẽ, phần lớn rủi ro thường dồn về phía người nông dân. Chỉ cần doanh nghiệp chậm thu mua hoặc chậm thanh toán, người dân sẽ mất niềm tin và phá vỡ chuỗi liên kết đã hình thành trước đó. Ở chiều ngược lại, nhiều doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn trong việc duy trì vùng nguyên liệu ổn định. Sản xuất nhỏ lẻ, phân tán khiến doanh nghiệp khó kiểm soát sản lượng và chất lượng. Khi giá thị trường tăng cao, không ít hộ dân sẵn sàng bán sản phẩm cho thương lái bên ngoài thay vì thực hiện hợp đồng đã ký với doanh nghiệp. Điều này khiến doanh nghiệp thiếu hụt nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu...
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là vai trò của HTX trong liên kết sản xuất còn khá mờ nhạt. Nhiều HTX chưa đủ năng lực tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng hay đại diện cho nông dân ký kết hợp đồng với doanh nghiệp. Vì vậy, liên kết hiện nay chủ yếu vẫn diễn ra trực tiếp giữa doanh nghiệp với từng hộ dân riêng lẻ, thiếu cơ chế bảo đảm lâu dài. Bên cạnh đó, nông sản phụ thuộc vào thương lái vẫn là thực trạng phổ biến tại nhiều vùng nguyên liệu. Theo Chủ tịch UBND xã Ngọc Liên, Phan Thị Hà: “Trên địa bàn xã có vùng trồng dứa tập trung với hơn 1.000ha, phần lớn khi thu hoạch đều do thương lái thu mua. Người dân thường ở thế bị động, “được giá thì vui, mất giá thì chịu” gần như không có nhiều lựa chọn khác vì thiếu đầu ra ổn định. Vì vậy, địa phương mong muốn tỉnh tiếp tục quan tâm, ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp theo hướng hữu cơ, nhất là đối với các mô hình liên kết sản xuất gắn với bao tiêu sản phẩm”.
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, yêu cầu của thị trường đối với nông sản cũng ngày càng khắt khe hơn. Không chỉ dừng ở chất lượng sản phẩm, nhiều thị trường còn yêu cầu quy trình sản xuất an toàn, minh bạch và có khả năng truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, hiện toàn tỉnh mới có 121 vùng với diện tích khoảng 1.125ha được cấp mã số vùng trồng đối với cây ăn quả, rau màu và cây lúa. Trong đó, chỉ duy trì được 75 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích hơn 653ha. Các mã số vùng trồng chủ yếu tập trung ở cây ớt, lúa, khoai lang, bưởi, vải, thanh long, chuối và mít. So với tổng diện tích sản xuất nông nghiệp của toàn tỉnh, con số này vẫn còn khá khiêm tốn. Nhiều vùng nguyên liệu dù đã sản xuất tập trung nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu về ghi chép nhật ký sản xuất, kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật hay truy xuất nguồn gốc. Đây là rào cản lớn khiến nông sản khó tham gia vào chuỗi cung ứng hiện đại cũng như xuất khẩu chính ngạch sang các thị trường khó tính.
Một thực tế khác là diện tích sản xuất đạt các tiêu chuẩn chất lượng về sản phẩm còn thấp. Toàn tỉnh hiện mới có khoảng 2.500ha sản xuất đạt chứng nhận VietGAP; gần 20ha cây trồng đạt tiêu chuẩn hữu cơ và khoảng 5.100ha sản xuất theo hướng hữu cơ. So với tổng diện tích canh tác, tỷ lệ này còn rất nhỏ. Điều đó đồng nghĩa với việc phần lớn nông sản hiện nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Trong khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm, chất lượng và truy xuất nguồn gốc, đây rõ ràng là “điểm nghẽn” lớn trong phát triển vùng nguyên liệu bền vững.
“Nút thắt” cản trở sản xuất quy mô lớn
Một trong những “lỗ hổng” lớn nhất hiện nay trong phát triển vùng nguyên liệu là tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ và tự phát. Dù tỉnh đã có nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đất đai nhưng trên thực tế, quá trình triển khai vẫn gặp không ít khó khăn. Trong giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh tích tụ, tập trung được khoảng 34.170ha đất để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao. Riêng quý I/2026, diện tích tích tụ, tập trung đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao đạt khoảng 2.500ha. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tế, kết quả này vẫn còn khá hạn chế. Phần lớn diện tích đất nông nghiệp hiện nay vẫn do các hộ gia đình quản lý với quy mô nhỏ lẻ, phân tán. Mỗi hộ chỉ vài sào ruộng, nằm ở nhiều khu vực khác nhau nên rất khó áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, khoa học - kỹ thuật hay quy trình sản xuất hiện đại...
Theo ông Đỗ Minh Thủy, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư phát triển VinaGreen, xã Triệu Sơn, hiện doanh nghiệp là đơn vị duy nhất trên địa bàn tỉnh xuất khẩu gạo chất lượng cao sang thị trường châu Âu, như: Đức, Séc, Ba Lan... Công ty có vùng nguyên liệu rộng lớn tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Bắc Trung bộ... Trên địa bàn tỉnh, công ty đang liên kết với người dân sản xuất lúa trên diện tích khoảng 800ha. Trong những năm tới, công ty dự kiến mở rộng liên kết lên khoảng 3.500ha sản xuất các giống lúa chất lượng cao, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương để đáp ứng nhu cầu chế biến. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là diện tích đất trồng lúa còn nhỏ lẻ, manh mún. Để khắc phục tình trạng này, công ty đang phối hợp với các xã, HTX nông nghiệp, nông dân có diện tích lớn để tuyên truyền, vận động tổ chức liên kết sản xuất theo mô hình “cánh đồng một giống” nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch, đưa cơ giới hóa và ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Không chỉ khó khăn về quy mô đất đai, quá trình tích tụ ruộng đất còn vướng phải tâm lý “giữ đất” của nhiều hộ dân. Dù thiếu lao động sản xuất, thậm chí bỏ ruộng hoang nhưng nhiều hộ vẫn không muốn cho thuê hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì lo ngại mất đất về lâu dài. Tâm lý bám đất khiến quá trình hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn diễn ra chậm, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Trong khi đó, doanh nghiệp muốn đầu tư sản xuất lớn lại cần vùng nguyên liệu ổn định, tập trung và có khả năng cơ giới hóa đồng bộ. Một bất cập khác là quy hoạch vùng nguyên liệu ở một số nơi còn thiếu ổn định và mang tính tự phát. Khi giá nông sản tăng cao, người dân ồ ạt mở rộng diện tích; nhưng khi giá giảm lại nhanh chóng bỏ hoang hoặc chuyển đổi cây trồng khác. Điều này khiến vùng nguyên liệu luôn biến động, thiếu tính bền vững và rất khó xây dựng chuỗi liên kết lâu dài. Vì vậy, chỉ khi khắc phục được những “lỗ hổng” trong liên kết, tổ chức sản xuất và quản lý vùng nguyên liệu, nông nghiệp mới có thể phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Lê Hợi
Bài cuối: Giải pháp nào để “giữ chân” các vùng nguyên liệu?











