Phát triển vùng sản xuất lâm nghiệp theo hướng hữu cơ
Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng rừng, gắn bảo vệ, phát triển rừng với nâng cao thu nhập cho người dân, ngành nông nghiệp và các xã khu vực miền núi của tỉnh đã tích cực phát triển các vùng sản xuất lâm nghiệp theo hướng hữu cơ, hướng tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững.

Người dân xã Pù Luông trồng dược liệu dưới tán rừng theo hướng hữu cơ cho hiệu quả kinh tế cao.
Toàn tỉnh hiện có 393.360ha rừng tự nhiên, không chỉ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái, phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu, mà còn là “kho tài nguyên sống” với nguồn lâm sản ngoài gỗ. Đây chính là nền tảng quan trọng để phát triển các mô hình sản xuất lâm nghiệp hữu cơ. Đáng chú ý, dưới tán rừng tự nhiên của tỉnh còn tồn tại hệ thực vật dược liệu đa dạng, phong phú với gần 1.000 loài, trong đó có khoảng 20 loài cây dược liệu quý, có giá trị kinh tế cao. Nhận thức rõ lợi thế này, trong giai đoạn 2020-2025, toàn tỉnh đã xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình sản xuất hữu cơ dưới tán rừng, coi đây là hướng đi phù hợp, vừa khai thác hiệu quả tiềm năng rừng, vừa góp phần bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái rừng tự nhiên.
Thực tế triển khai cho thấy, nhiều mô hình đã mang lại hiệu quả rõ nét. Đơn cử như mô hình trồng cây hoài sơn với quy mô 10ha, cát sâm 5ha, na rừng 4ha; trồng sâm Ngọc Linh với 10.000 cây; lan kim tuyến với 200.000 cây... ở các xã Vân Du, Thường Xuân, Linh Sơn đều sinh trưởng tốt, thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu dưới tán rừng, cho giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với các loại cây trồng truyền thống. Quan trọng hơn, các mô hình này không làm thay đổi cấu trúc rừng, không sử dụng hóa chất độc hại, phù hợp với tiêu chí sản xuất hữu cơ, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gen dược liệu quý hiếm.
Cùng với việc xây dựng mô hình, trên địa bàn tỉnh đã hình thành 10 doanh nghiệp tham gia liên kết với người dân trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu. Thông qua các hợp đồng bao tiêu, hỗ trợ kỹ thuật, cung ứng giống, nhiều hộ dân đã yên tâm đầu tư sản xuất, từng bước chuyển từ khai thác tự phát sang sản xuất có kế hoạch, có kiểm soát theo tiêu chuẩn hữu cơ. Nhiều vùng trồng dược liệu hữu cơ tập trung đã được hình thành với các loại cây chủ lực như: Sa nhân tím, quế, đinh lăng, cà gai leo, sâm Báo, lan kim tuyến... tạo nên diện mạo mới cho kinh tế lâm nghiệp ở các xã miền núi.
Song song với phát triển lâm sản ngoài gỗ, những năm gần đây các đơn vị sản xuất giống cây trồng đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, nhất là giống keo lai nuôi cấy mô chất lượng cao. Toàn tỉnh đã trồng khoảng 6.000ha rừng keo lai nuôi cấy mô, góp phần nâng cao năng suất rừng trồng, rút ngắn chu kỳ khai thác, đồng thời tạo ra nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng cao cho công nghiệp chế biến gỗ.
Một điểm sáng khác trong phát triển lâm nghiệp theo hướng hữu cơ và bền vững là việc hình thành các chuỗi liên kết gắn trồng rừng với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, đi đôi với cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC. Đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng được 10 chuỗi liên kết giữa 5.442 hộ, nhóm hộ là chủ rừng sản xuất với các nhà máy chế biến gỗ với tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC đạt 32.282ha.

Chuyên gia của Hội đồng Quản trị rừng thế giới (FSC) kiểm tra diện tích rừng trồng keo tại xã Ngọc Trạo.
Theo Giám đốc HTX Quản lý rừng bền vững Thạch Thành, xã Ngọc Trạo Phạm Thành Đồng, đến nay tổng diện tích rừng đáp ứng yêu cầu các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý rừng được Hội đồng Quản trị rừng thế giới (FSC) cấp chứng chỉ là 3.102,6ha của 1.523 hộ tham gia ở các xã Ngọc Trạo, Thạch Bình, Thành Vinh, Vân Du. Trong những năm tới, HTX cùng với các hộ cam kết sẽ duy trì và phát triển diện tích chứng chỉ FSC tăng thêm từ 4.000ha đến 6.000ha với khoảng 2.200 hộ thành viên tham gia. Việc tham gia các chuỗi liên kết và được cấp chứng chỉ FSC không chỉ giúp nâng cao giá trị sản phẩm gỗ, mở rộng thị trường xuất khẩu, mà còn thay đổi căn bản tư duy sản xuất của người trồng rừng theo hướng tuân thủ các tiêu chuẩn về môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Từ thực tiễn phát triển các vùng sản xuất lâm nghiệp hữu cơ cho thấy, hướng đi này đã và đang mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Người dân không chỉ có thêm sinh kế ổn định, nâng cao thu nhập trên cùng một diện tích đất rừng, mà còn nâng cao ý thức bảo vệ rừng, gắn bó lâu dài với rừng. Đối với ngành lâm nghiệp, việc phát triển lâm nghiệp hữu cơ góp phần nâng cao giá trị gia tăng, đa dạng hóa sản phẩm, giảm phụ thuộc vào khai thác gỗ thuần túy, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Với tiềm năng, lợi thế sẵn có cùng những kết quả bước đầu đã đạt được, sản xuất lâm nghiệp hữu cơ sẽ tiếp tục mở rộng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế lâm nghiệp xanh, bền vững, nâng cao đời sống người dân và bảo vệ vững chắc “lá phổi xanh” của tỉnh trong những năm tới.












