Phía sau những con số ấn tượng, xuất nhập khẩu bộc lộ điểm mất cân đối

Kết quả ngoại thương quý I cho thấy bức tranh tăng trưởng cao về quy mô, song đồng thời bộc lộ những vấn đề mang tính cơ cấu như xu hướng nhập siêu và tình trạng suy giảm vai trò của khu vực trong nước.

Nếu không sớm khắc phục, những rủi ro với thương mại quốc tế và toàn bộ nền kinh tế sẽ ngày càng rõ nét trong các quý tiếp theo, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Việt Nam đã đặt ra.

Sáng - tối bức tranh xuất nhập khẩu quý I

Quý I/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất kể từ năm 2022.

Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước và là mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây.

Tuy nhiên, ở chiều nhập khẩu, kim ngạch đạt 126,57 tỷ USD, tăng tới 27% so với cùng kỳ năm trước - cao hơn nhiều so với tốc độ tăng xuất khẩu,

Hệ quả trực tiếp của diễn biến này là cán cân thương mại hàng hóa quý I nhập siêu 3,64 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 3,57 tỷ USD.

Bảng thống kê kim ngạch xuất, nhập khẩu quý I các năm cho thâýViệt Nam đã đứt chuỗi xuất siêu sau nhiều năm duy trì . ( Đơn vị: tỷ USD, %)

Bảng thống kê kim ngạch xuất, nhập khẩu quý I các năm cho thâýViệt Nam đã đứt chuỗi xuất siêu sau nhiều năm duy trì . ( Đơn vị: tỷ USD, %)

Tại họp báo thường ký quý I của Bộ Công Thương diễn ra cuối tuần qua, ông Lê Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu cho biết, qua theo dõi số liệu các năm, mức nhập siêu của quý I không phải quá cao vì đây thường là giai đoạn các doanh nghiệp tích cực nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị để đầu tư cho các dự án mới.

“Năm 2025, các dự án FDI đầu tư tăng kỷ lục nên giờ là thời điểm họ nhập khẩu cơ sở vật chất. Số liệu cho thấy các mặt hàng nhập khẩu cao gồm linh kiện điện tử, máy móc thiết bị phụ tùng, xăng dầu và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Đây đều là những mặt hàng phục vụ sản xuất”, ông Hải lý giải.

Đồng quan điểm, theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), kết quả nhập siêu ở giai đoạn này chưa hẳn là dấu hiệu bất thường hay tiêu cực mà mang tính chất ngắn hạn, gắn với chu kỳ sản xuất và yếu tố giá. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, việc chuyển sang nhập siêu phản ánh nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Điều này cũng cho thấy doanh nghiệp chủ động tăng dự trữ đầu vào để phòng ngừa rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá năng lượng.

Một vấn đề đáng quan tâm hơn, theo Cục Thống kê, là việc kết quả xuất nhập khẩu quý I đang phản ánh rõ nét sự phụ thuộc ngày càng lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và sự suy giảm vai trò của khu vực kinh tế trong nước.

Cụ thể, 93,9% kim ngạch nhập khẩu là tư liệu sản xuất, trong đó nhóm máy móc, thiết bị và phụ tùng chiếm 55,3%, phản ánh chu kỳ mở rộng đầu tư, sản xuất đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt trong khu vực FDI khi kim ngạch nhập khẩu của khu vực này tăng tới 45,3%. Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước giảm 4,3%, cho thấy một bộ phận doanh nghiệp trong nước còn gặp khó khăn.

Không chỉ giảm nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu của khu vực trong nước cũng âm 16,6% so với cùng kỳ năm trước, khi chỉ đạt 24,47 tỷ USD, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Theo Cục Thống kê, tình trạng khu vực kinh tế trong nước tăng trưởng âm cả về xuất khẩu lẫn nhập khẩu là dấu hiệu cần quan tâm. Nếu xu hướng này kéo dài, khoảng cách giữa khu vực FDI và khu vực trong nước sẽ ngày càng nới rộng, làm suy giảm tính tự chủ của nền kinh tế trong hoạt động thương mại quốc tế.

Ở tầm vĩ mô, nhập siêu quay trở lại tạo áp lực lên cán cân thanh toán, tỷ giá và dự trữ ngoại hối. Mức độ phụ thuộc lớn vào nhập khẩu tư liệu sản xuất khiến nền kinh tế nhạy cảm với biến động giá năng lượng, xung đột địa chính trị và thay đổi chính sách của các đối tác thương mại lớn.

Đồng thời, khi phần lớn giá trị gia tăng trong xuất khẩu nằm ở khu vực FDI, tác động lan tỏa đến thu nhập, việc làm và tích lũy vốn của khu vực trong nước bị hạn chế, làm giảm hiệu quả thực chất của tăng trưởng ngoại thương đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.

Giữ động lực bền vững cho tăng trưởng

Ông Lê Thanh Hải đánh giá “việc nhập siêu vẫn nằm trong tầm kiểm soát”, tuy nhiên để đạt mục tiêu xuất siêu cả năm như chỉ tiêu đề ra còn nhiều khó khăn, đòi hỏi nỗ lực, quyết tâm lớn.

Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu cho rằng, có 3 thách thức lớn với xuất nhập khẩu quý II. Thứ nhất, dù xung đột Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt nhưng tâm lý bất an của thị trường vẫn còn. Nguy cơ giá cả leo thang dẫn đến thắt chặt chi tiêu, làm sụt giảm nhu cầu hàng hóa. Thứ hai là tình trạng thiếu hụt nguyên liệu đầu vào như dầu mỏ, ảnh hưởng đến các ngành phân bón, hạt nhựa. Thứ ba là chi phí vận chuyển, logistics và bảo hiểm hàng hóa tăng cao.

“Nếu cuộc xung đột Trung Đông kéo dài, áp lực lên doanh nghiệp xuất khẩu sẽ rất lớn”, ông Hải lo ngại.

Còn theo quan điểm của Cục Thống kê, để hoạt động xuất nhập khẩu thực sự trở thành động lực bền vững cho tăng trưởng, thời gian tới, không chỉ cần thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch mà còn phải nâng cao chất lượng tham gia của khu vực kinh tế trong nước.

Theo đó, cần tập trung vào các nhóm giải pháp trọng tâm như nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng FDI. Phát triển công nghiệp hỗ trợ cho điện tử, cơ khí chính xác, linh kiện. Xây dựng chính sách tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng.

Bên cạnh đó, cần giảm phụ thuộc nhập khẩu từ một số thị trường, đa dạng hóa nguồn cung nguyên vật liệu, linh kiện; tận dụng tối đa các FTA thế hệ mới; hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng quy tắc xuất xứ, mở rộng thị trường EU, CPTPP.

Cần có giải pháp giảm chi phí logistics và thủ tục hành chính; số hóa hải quan, rút ngắn thời gian thông quan; đẩy mạnh phát triển hạ tầng cảng biển, kho bãi, vận tải đa phương thức. Ngoài ra, cần thúc đẩy xuất khẩu nhóm nông sản, thực phẩm chế biến, chuyển từ xuất thô sang chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc đáp ứng tiêu chuẩn cao.

Đáng chú ý, mới đây Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 771/QĐ-BCT công bố các thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nhằm tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế của doanh nghiệp. Điểm đáng chú ý là việc rà soát, sửa đổi tập trung vào nhóm thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) - một trong những thủ tục quan trọng nhất đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Đây có thể trở thành đòn bẩy mới giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Dù đã đạt được những kết quả nhất định trong quý I, công nghiệp, thương mại vẫn đối mặt nhiều thách thức. Đặc biệt, tình hình chiến sự tại Trung Đông đặt ra áp lực không nhỏ cho công tác điều hành quý II/2026 và các tháng tiếp theo. Từ quý II trở đi, cần tính toán để bình quân xuất siêu trên 8 tỷ USD mỗi quý. Nếu xuất siêu 8 tỷ USD/quý từ nay đến hết năm mới giúp nước ta về đích với mục tiêu thặng dư trên 20 tỷ USD.

Ông Lê Mạnh Hùng Bộ trưởng Bộ Công Thương

Việt Nam thực sự chỉ giữ lại được một phần rất nhỏ trong toàn bộ chuỗi giá trị. Ví dụ, năm 2024, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam khoảng 400 tỷ USD, nhưng có tới gần 300 tỷ USD là của khối FDI, tức là khoảng 70% giá trị xuất khẩu rơi vào tay doanh nghiệp nước ngoài. Còn lại khoảng 100 tỷ USD là của doanh nghiệp Việt. Tính trung bình toàn bộ 100 tỷ USD đó thì chỉ có khoảng 60 tỷ USD là giá trị gia tăng nội địa vì 40 tỷ USD còn lại chúng ta đã tiêu tốn cho việc nhập khẩu nguyên vật liệu.

TS Lê Xuân Nghĩa Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia

Chiến lược xuất khẩu giai đoạn tới cần được thiết kế linh hoạt, theo hướng duy trì sự hiện diện hàng hóa của doanh nghiệp tại thị trường khó tính, giá trị cao như Mỹ, EU. Đồng thời, chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, dù có thể trong ngắn hạn sẽ làm giảm biên độ lợi nhuận nhưng đây là điều kiện để giữ vững vị thế lâu dài của Việt Nam. Tiếp tục tận dụng khai thác thị trường gần, thị trường mới nổi, thị trường đông dân còn nhiều dư địa, bằng cách đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, xúc tiến thương mại chuyên sâu, nghiên cứu khả năng mở rộng hợp tác song phương – từ đó sẽ mở ra dư địa tăng trưởng mới cho xuất khẩu.

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng Giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/phia-sau-nhung-con-so-an-tuong-xuat-nhap-khau-boc-lo-diem-mat-can-doi.html