Phiên họp Chuyên đề Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06
Chiều 23/6, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo (BCĐ) của Chính phủ về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS) và Đề án 06 chủ trì phiên họp chuyên đề về thúc đẩy phát triển KHCN, ĐMST, CĐS.
Phiên họp được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại trụ sở Chính phủ kết hợp trực tuyến với 34 tỉnh, thành phố trên cả nước.
Tham dự phiên họp có Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc, Phó Trưởng ban Thường trực BCĐ; Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, Phó Trưởng BCĐ; lãnh đạo các bộ, ngành là thành viên BCĐ.
Tại điểm cầu tỉnh có đồng chí Vũ Hồng Quang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh; Vũ Đình Quang, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; thành viên BCĐ về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS và Đề án 06 tỉnh; các sở, ngành, đơn vị liên quan.

Các đại biểu tham dự điểm cầu tỉnh.
Tại phiên họp, Bộ Công an báo cáo tóm tắt về giao ban tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW sau Kết luận Phiên họp thứ ba năm 2026 của BCĐ của Chính phủ; chuyên đề về thúc đẩy phát triển KHCN, ĐMST. Đến nay, các bộ, ngành đã triển khai 53 nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW. Các bộ, ngành đã ban hành 6 luật, 5 nghị định, 3 nghị quyết và 3 quyết định nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển KHCN, ĐMST, CĐS. Nhiều địa phương đã phát huy lợi thế đặc thù để hình thành các mô hình, sản phẩm ứng dụng KHCN tiêu biểu, mặc dù giá trị, quy mô của sản phẩm còn hạn chế.
Sau khi triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, có 29 địa phương đăng ký tổng cộng 124 sản phẩm khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; 5 địa phương chưa đăng ký sản phẩm. Trong đó, nhóm công nghệ chiến lược có 33 sản phẩm, chiếm 27,3%; nhóm không thuộc công nghệ chiến lược có 91 sản phẩm, chiếm 72,7%. Theo lĩnh vực, nhóm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghệ sinh học và chế biến nông - lâm - thủy sản có 54 sản phẩm, chiếm 43,6%; nhóm công nghệ mới, công nghệ số, công nghệ chiến lược và công nghiệp công nghệ cao có 70 sản phẩm, chiếm 56,4%.
Tại tỉnh Cao Bằng, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực quản trị và từng bước thu hẹp khoảng cách số giữa khu vực thành thị với vùng sâu, vùng xa. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số thông qua tổ chức 27 lớp tập huấn về kỹ năng số, dữ liệu số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho khoảng 750 cán bộ, công chức, viên chức. Đến nay, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn dành cho KHCN, ĐMST, CĐS của tỉnh đạt 4,5%, thấp hơn mức bình quân chung của cả nước.
Tại phiên họp, các đại biểu tập trung trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KHCN, ĐMST, CĐS. Các ý kiến tham luận về việc hình thành mạng lưới chuyển giao công nghệ quốc gia; phát triển hệ sinh thái công nghệ trong lĩnh vực năng lượng mới, năng lượng tái tạo, vật liệu xây dựng xanh; xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số du lịch quốc gia; phát triển nền tảng dữ liệu và công nghệ số phục vụ nông nghiệp chính xác, nông nghiệp tuần hoàn; xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu, sản xuất thuốc và vắc xin công nghệ cao. Nhiều địa phương đề xuất giải pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, công nghệ sinh học vào các lĩnh vực du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo; đồng thời phát triển các sản phẩm công nghệ đặc trưng và hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ tại địa phương.
Phát biểu kết luận phiên họp, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh: Phát triển KHCN, ĐMST, CĐS phải trực tiếp phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng quản trị. Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, xây dựng tiêu chuẩn, đặt hàng các nhiệm vụ lớn; trong khi doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong nghiên cứu, ứng dụng, thương mại hóa sản phẩm và phát triển thị trường.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng thực hiện các nhiệm vụ được giao; khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Đồng thời, phải chuyển mạnh tư duy từ "làm theo phong trào" sang lấy kết quả đầu ra, hiệu quả ứng dụng và đóng góp thực chất cho tăng trưởng kinh tế - xã hội làm thước đo. Khẩn trương rà soát, xác định các bài toán lớn của từng ngành, từng địa phương; tập trung nguồn lực cho các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và các sản phẩm có khả năng tạo giá trị gia tăng cao.
Về phát triển công nghệ chiến lược, yêu cầu từng bộ, ngành xác định rõ chuỗi giá trị, mức độ làm chủ công nghệ, doanh nghiệp dẫn dắt, nguồn lực, thị trường, lộ trình thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm. Các bộ: Y tế, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương hoàn thiện định hướng phát triển các sản phẩm công nghệ thuộc lĩnh vực quản lý. Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương thẩm định các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược do các bộ, ngành đề xuất; làm rõ phương án bố trí kinh phí, bảo đảm các nhiệm vụ đủ điều kiện triển khai ngay sau khi được phê duyệt.
Về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, giao Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, triển khai các chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao; đồng thời nghiên cứu các cơ chế thu hút, trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học và nhân tài trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu, đề xuất các cơ chế phân cấp, phân quyền mạnh hơn trong quản lý, sử dụng nguồn lực; hoàn thiện cơ chế đặt hàng theo kết quả đầu ra; thúc đẩy hợp tác công tư, mua sắm công đối với sản phẩm công nghệ mới; xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.











