'Quả ngọt' từ nghị quyết phát triển khoa học, công nghệ
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, An Giang đang từng bước đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số vào quản lý, sản xuất và đời sống. Hạ tầng số được hoàn thiện, dịch vụ công trực tuyến phát triển, tạo nền tảng cho tăng trưởng và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.

Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh xử lý hồ sơ trên môi trường số, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Ảnh: CẨM TÚ
Bước chuyển dịch mang tính đột phá trong bộ máy chính quyền tinh gọn thể hiện ở việc kiên quyết từ bỏ lối mòn của phương thức quản lý truyền thống. Tỉnh chuyển đổi đồng bộ từ giai đoạn chỉ đạo theo văn bản, cuộc họp sang điều hành dựa trên dữ liệu, theo mục tiêu, sản phẩm, tiến độ và kết quả đầu ra. Sự xuất hiện của các hệ thống giám sát, bảng điều khiển theo dõi trực quan giúp lãnh đạo các cấp có cái nhìn thực tế, chính xác để đưa ra quyết định kịp thời thay vì chờ đợi báo cáo giấy.
Để tạo hành lang pháp lý thông thoáng, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành liên tiếp 3 nghị quyết cụ thể hóa Luật Công nghiệp công nghệ số và các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ giai đoạn 2026 - 2030. Chính sách áp dụng mức thu “0 đồng” đối với phí, lệ phí khi người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/6 được đánh giá là đòn bẩy thực tế, xóa bỏ rào cản chi phí và khuyến khích người dân tương tác trên môi trường điện tử.
Tính đến cuối tháng 5/2026, chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp trên môi trường điện tử của An Giang đạt 95,96 điểm, xếp loại xuất sắc và đứng thứ 16/34 tỉnh, thành phố trên cả nước. Trong bộ chỉ số 766/QĐ-TTg, chỉ số về mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp tại An Giang đạt 18 điểm tuyệt đối. Đây là minh chứng rõ nhất cho thấy giải pháp công nghệ đã thực sự chạm đến nhu cầu thực tế của đời sống.
Hiện, toàn tỉnh đang cung cấp 1.861 dịch vụ công trực tuyến, trong đó có tới 1.545 dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Hạ tầng viễn thông phát triển mạnh mẽ với tỷ lệ phủ sóng mạng internet băng rộng cố định và mạng di động 3G, 4G, 5G đạt 100% các xã. Đồng thời, tỷ lệ phủ sóng 5G trên quy mô dân số đã chạm mốc 92%.
Không dừng lại ở việc xây dựng hạ tầng, tỉnh chú trọng nâng cao năng lực số cho người dân thông qua phong trào “Bình dân học vụ số” và ứng dụng “Học tập suốt đời” trên nền tảng SmartAnGiang. Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, hoạt động tích cực của các tổ công nghệ số cộng đồng, tỷ lệ người dân được tập huấn và tiếp cận kỹ năng số cơ bản đạt 50,4%. Dân số trưởng thành được cấp chứng thư chữ ký số, chữ ký điện tử đạt 11,8%, tăng gấp đôi so với thời điểm đầu năm 2025.
Theo Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hồ Văn Mừng, Nghị quyết số 57-NQ/TW chỉ thực sự thành công khi giải quyết được các bài toán thực tế của địa phương. An Giang nỗ lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để người nông dân bán được nông sản giá cao hơn, doanh nghiệp làm thủ tục nhanh hơn và bộ máy công quyền vận hành minh bạch hơn. Thời gian tới, các sở, ngành và địa phương phải tập trung số hóa dữ liệu chuyên ngành thực chất, dứt điểm tình trạng cát cứ thông tin, đồng thời ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo (AI) vào quản lý công vụ để tối ưu hóa hiệu suất lao động của cán bộ.
“Chuyển đổi số không phải là việc mua sắm trang thiết bị hay số hóa các quy trình cũ một cách máy móc mà cốt lõi là thay đổi thói quen lãnh đạo và lề lối làm việc. Chúng ta phải nhìn thẳng vào dữ liệu để điều hành, đo đếm hiệu quả bằng sản phẩm đầu ra và sự hài lòng thực tế của người dân, doanh nghiệp chứ không thể chỉ đạo chung chung trên văn bản giấy”, đồng chí Hồ Văn Mừng nhấn mạnh.
Bên cạnh những điểm sáng, báo cáo sơ kết 1 năm 6 tháng thực hiện nghị quyết cũng thẳng thắn chỉ ra những “nút thắt” cần tháo gỡ. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là nguồn nhân lực có chuyên môn sâu về công nghệ thông tin, an toàn thông tin ở cấp cơ sở còn thiếu và yếu, tình trạng cán bộ kiêm nhiệm còn phổ biến, chỉ 26,5% cán bộ phụ trách cấp xã có bằng cấp chuyên môn phù hợp. Hạ tầng kỹ thuật ở một số khu vực hải đảo đặc thù, vùng biên giới vẫn chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc triển khai sinh hoạt chi bộ số cũng như tiếp cận các dịch vụ công của đồng bào dân tộc thiểu số. Mặt khác, dù đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi sâu cho công nghiệp bán dẫn và sản phẩm số, An Giang vẫn chưa thu hút được các doanh nghiệp công nghệ quy mô lớn đến đầu tư chiến lược.
Những kết quả bước đầu qua thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đã đặt nền móng vững chắc cho chặng đường tiếp theo. Để tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, An Giang khẩn trương triển khai 6 công nghệ chiến lược, nhất là đưa AI và IoT vào dự báo sâu bệnh cho các cánh đồng mẫu lớn phát thải thấp, dùng camera AI và thiết bị bay không người lái (UAV) để quản lý tài nguyên, giám sát cháy rừng.
Hướng tới phục vụ Hội nghị cấp cao APEC năm 2027 tại đặc khu Phú Quốc, việc nâng cấp hạ tầng số toàn diện đang được đẩy mạnh như nhiệm vụ trọng tâm. Cuộc cách mạng số tại An Giang đã bước qua giai đoạn khởi động bằng khẩu hiệu, nay đi vào chiều sâu bằng những mô hình thực chất, lấy sự tiện lợi của người dân và sự bứt phá của nền kinh tế làm thước đo giá trị cốt lõi.












