Quản lý nguồn nước theo lưu vực để chủ động ứng phó El Nino

Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng - thủy văn quốc gia, biến đổi khí hậu và El Nino cường độ rất mạnh sẽ xảy ra trong những tháng cuối năm 2026 và đầu năm 2027. Tình trạng này sẽ làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước tại nhiều khu vực như Tây Nguyên, Nam Trung bộ, Nam bộ và có thể cả Bắc bộ. Vậy ứng phó thế nào, trữ nước ở đâu, điều tiết ra sao để nguồn nước đến nơi cần sử dụng? Phóng viên Báo SGGP đã phỏng vấn TS Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam về vấn đề này.

* PHÓNG VIÊN: Trước nguy cơ thiếu nước do ảnh hưởng biến đổi khí hậu, theo ông, cần thay đổi cách quản lý nguồn nước như thế nào để chủ động ứng phó thay vì chờ xảy ra hạn hán mới tìm cách khắc phục?

 TS Nguyễn Quốc Dũng

TS Nguyễn Quốc Dũng

- TS NGUYỄN QUỐC DŨNG: Theo tôi, ứng phó nguy cơ thiếu nước, quản lý nguồn nước cần được nhìn nhận trên phạm vi toàn lưu vực sông, thay vì chỉ theo địa giới hành chính. Nguồn nước có sự liên hệ giữa thượng lưu và hạ lưu, giữa hồ chứa, hệ thống thủy lợi và các khu vực sử dụng nước. Nếu quản lý riêng lẻ theo từng địa phương, thiếu phối hợp, thì điều tiết nguồn nước sẽ khó đạt hiệu quả chung.

Muốn chủ động, cần dự báo sớm để tính toán lượng nước có thể đến, nhu cầu sử dụng và khả năng trữ nước của từng khu vực. Những thông tin này phải được chuyển thành phương án cụ thể về lấy nước, tích trữ, phân phối và vận hành công trình. Không thể đợi đến khi hồ cạn, kênh thiếu nước hoặc mặn đã xâm nhập sâu mới xử lý.

* Theo ông, giải pháp “ngăn sông trữ nước ngọt” cho đồng bằng sông Cửu Long còn phù hợp không?

- Với đồng bằng sông Cửu Long, cần chuyển tư duy ngăn mặn hoàn toàn sang kiểm soát mặn và thích ứng với mặn. Cống thủy lợi được vận hành để giữ nước ngọt trong kênh rạch, ngăn mặn trong những thời điểm cần thiết. Khi độ mặn ngoài sông phù hợp thì mở cống lấy nước. Không nên đóng kín hệ thống một cách máy móc, cần tính toán để phần lớn thời gian duy trì dòng chảy và lưu thông tự nhiên.

Bên cạnh đó, có thể trữ nước tại những đoạn sông, kênh rạch có điều kiện phù hợp. Một số địa phương từng đắp đập tạm trên các sông cụt để ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Cách làm này cần được tính toán theo địa hình, chế độ dòng chảy, chất lượng nước và nhu cầu của khu vực, không thể áp dụng giống nhau ở mọi nơi.

Những công trình kiểm soát mặn như cống Cái Lớn - Cái Bé, cống Ninh Quới, Xuân Hòa và Vũng Liêm… cho thấy, nếu chủ động đóng mở cống, kết hợp dự báo độ mặn, có thể hỗ trợ giữ nước ngọt và bảo vệ sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả vận hành phụ thuộc vào điều kiện nguồn nước từng thời điểm và sự phối hợp của cả hệ thống.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN-MT) vừa có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về công tác ứng phó với tác động của El Nino năm 2026-2027, trong đó kiến nghị ưu tiên nguồn lực trong kế hoạch trung hạn 2026-2031 để xây mới, nâng cấp, sửa chữa các công trình thủy lợi và công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tại những khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng; đồng thời hỗ trợ người dân thu, trữ và xử lý nước an toàn tại hộ gia đình.

Bộ cũng đề nghị các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch ứng phó theo từng kịch bản khí tượng - thủy văn và nguồn nước; thường xuyên kiểm kê nguồn nước, điều chỉnh phương án phân phối nước và vận hành hồ chứa. Các giải pháp như nạo vét cửa lấy nước, kênh mương, trữ nước, lắp đặt trạm bơm dã chiến và áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước cần được triển khai để chủ động ứng phó trong mùa khô 2026-2027.

* Việc ứng dụng công nghệ vào giám sát, vận hành hệ thống thủy lợi hiện nay đạt kết quả gì, có thể nhân rộng mô hình nào?

- Hiện nay có nhiều mô hình, ví dụ như hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải ở miền Bắc đã triển khai các giải pháp quan trắc mực nước, chất lượng nước, lắp đặt camera và hiện đại hóa việc đóng mở cống. Những công nghệ này giúp theo dõi tình hình thực tế, hỗ trợ đơn vị quản lý chủ động hơn trong vận hành công trình tưới tiêu, chống hạn.

Một số hệ thống thủy lợi ở phía Nam như hệ thống thủy lợi Đông Củ Chi (dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng về TPHCM), hay một số hệ thống tại Quảng Ngãi cũng có những hướng triển khai tương tự. Theo tôi, cần tiếp tục phát huy năng lực của các nhà khoa học, doanh nghiệp trong nước để làm chủ công nghệ, thiết bị và giải pháp vận hành.

* Bên cạnh công nghệ và phương án điều hành, cơ chế tài chính cần được hoàn thiện ra sao để các đơn vị thủy lợi chủ động ứng phó khi xảy ra hạn hán, thiếu nước?

- Cần bảo đảm kinh phí duy trì hệ thống thủy lợi và triển khai các giải pháp ứng phó khẩn cấp để ứng phó hạn, mặn. Đối với các hệ thống thủy lợi sử dụng bơm động lực, cơ chế hỗ trợ chi phí bơm khẩn cấp khi xảy ra hạn hán, thiếu nước hoặc xâm nhập mặn là cần thiết.

Khi mực nước xuống thấp, các cống tự chảy không còn khả năng lấy nước, đơn vị quản lý phải tổ chức bơm dã chiến hoặc bơm chuyển tiếp, làm phát sinh thêm chi phí điện, dầu. Nếu có cơ chế hỗ trợ phù hợp, việc triển khai các giải pháp ứng phó sẽ thuận lợi hơn.

Nhiệt độ tháng 10 cao nhất trong 65 năm qua

Chiều 2-11, Cục Khí tượng - thủy văn (Bộ NN-MT) thông tin: nhiệt độ trung bình tháng 10 năm nay trên cả nước đạt 26,30C - cao hơn trung bình nhiều năm cùng thời kỳ này là 1,740C. Đây là mức cao nhất trong chuỗi số liệu quan trắc kể từ năm 1961 đến nay. Trong tháng 10, nhiệt độ trung bình tại hầu khắp các vùng, miền đều cao hơn trung bình nhiều năm 1-20C. Riêng Bắc bộ cao hơn 2-30C, một số nơi ở Nam bộ cao hơn 0,5-10C.

Từ tháng 11-2026 đến tháng 1-2027, El Nino hoạt động có cường độ rất mạnh với xác suất 96%. Trong tháng 11, nhiệt độ trung bình trên cả nước phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm 1-20C. Cục Khí tượng - thủy văn cho biết, có 61 trạm trên cả nước ghi nhận nhiệt độ cao nhất tuyệt đối (tính theo ngày) đạt hoặc vượt giá trị lịch sử cùng thời kỳ. Đồng thời, 98 trạm có nhiệt độ trung bình tháng đạt hoặc vượt giá trị lịch sử, trong đó có 87 trạm tại Bắc bộ.

PHÚC VĂN thực hiện

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/quan-ly-nguon-nuoc-theo-luu-vuc-de-chu-dong-ung-pho-el-nino-post879727.html