Quốc hội điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã ký chứng thực Nghị quyết số 252/2025/QH15 của Quốc hội khóa XV, sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị quyết số 81/2023/QH15 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Nghị quyết điều chỉnh xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hình thành mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Không gian phát triển quốc gia được tổ chức thống nhất, hiệu quả và bền vững; các vùng động lực, hành lang kinh tế và cực tăng trưởng phát huy vai trò dẫn dắt; hệ thống kết cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hiện đại; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tăng khả năng chống chịu; giữ vững an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước; bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam.

Về các chỉ tiêu chủ yếu, Quốc hội đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2021 - 2030 đạt trên 8%/năm, trong đó giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm trở lên. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành khoảng 8.500 USD.

Quốc hội điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050. Ảnh: VGP

Quốc hội điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050. Ảnh: VGP

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, với khu vực dịch vụ chiếm trên 50% GDP; công nghiệp - xây dựng trên 40%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 28%; khu vực nông, lâm, thủy sản dưới 10%. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân giai đoạn 2021 - 2030 đạt khoảng 7%/năm, riêng giai đoạn 2026 - 2030 đạt trên 8,5%/năm; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%.

Nghị quyết cũng nhấn mạnh mục tiêu đưa tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt trình độ tiên tiến ở nhiều lĩnh vực then chốt, thuộc nhóm dẫn đầu trong các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Phát huy lợi thế của từng vùng kinh tế - xã hội; tập trung phát triển hai vùng động lực phía Bắc và phía Nam gắn với hai cực tăng trưởng là Hà Nội và TP.HCM; đồng thời hình thành và phát triển các hành lang kinh tế quan trọng như Bắc - Nam, Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Mộc Bài - TP.HCM - Biên Hòa - Vũng Tàu.

Cùng với đó, đẩy mạnh phát triển hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu, tạo nền tảng cho chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số; phấn đấu tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.

Lĩnh vực giáo dục được định hướng phát triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, thuộc nhóm 10 quốc gia có hệ thống giáo dục đại học tốt nhất châu Á; phấn đấu có ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học trong nhóm 200 trường hàng đầu châu Á và tối thiểu 1 cơ sở thuộc nhóm 100 trường hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.

Về văn hóa - xã hội, Quy hoạch điều chỉnh đặt mục tiêu xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát triển mạng lưới cơ sở văn hóa quốc gia gắn với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa. Đồng thời, hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia với các trục giao thông chiến lược Bắc - Nam, Đông - Tây; phấn đấu có khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc; phát triển các cảng biển cửa ngõ có chức năng trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không quốc tế lớn; các tuyến đường sắt kết nối cảng biển, kết nối quốc tế và hệ thống đường sắt đô thị.

Theo Nghị quyết, không gian phát triển đất nước được tổ chức thành 6 vùng kinh tế - xã hội, đi kèm mô hình tổ chức và cơ chế điều phối vùng nhằm tăng cường liên kết nội vùng, liên vùng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Trong đó, vùng Trung du và miền núi phía Bắc phấn đấu tăng trưởng GRDP bình quân 9 - 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030; vùng Đồng bằng sông Hồng đạt khoảng 11%/năm, giữ vai trò động lực phát triển hàng đầu; vùng Bắc Trung Bộ đạt 10 - 10,5%/năm, phát triển mạnh kinh tế biển và các khu kinh tế ven biển.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên phấn đấu tăng trưởng GRDP 9,5 - 10%/năm; vùng Đông Nam Bộ đạt 10 - 11%/năm, trở thành trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và tài chính quốc tế có sức cạnh tranh trong khu vực. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long hướng tới tăng trưởng GRDP 9 - 9,5%/năm, phát triển thành trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, bền vững, gắn sản xuất quy mô lớn với công nghiệp chế biến, xây dựng thương hiệu, thúc đẩy nông nghiệp số và nông nghiệp thông minh.

Nguyễn Sơn

Nguồn DNSG: https://doanhnhansaigon.vn/quoc-hoi-dieu-chinh-quy-hoach-tong-the-quoc-gia-giai-doan-2021-2030-tam-nhin-2050-331755.html