Quốc hội khóa I: Quốc hội của độc lập dân tộc, của thống nhất đất nước và của đại đoàn kết toàn dân

Là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Quốc hội khóa I đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ cộng hòa.
Quốc hội ra đời trong hoàn cảnh cuộc đấu tranh quyết liệt giành và bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Sự ra đời của Quốc hội vừa là thành quả vừa là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp đấu tranh cách mạng. Quốc hội khóa I là Quốc hội của độc lập dân tộc, của thống nhất đất nước và của đại đoàn kết toàn dân.
Trong điều kiện cả nước vừa phải hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc vừa phải từng bước thực hiện cải cách dân chủ, Quốc hội khóa I đã góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, với chiến thắng Ðiện Biên Phủ lừng lẫy, đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.
Quốc hội đã thông qua danh sách Chính phủ đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, thông qua hai bản Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên Quốc hội đã thông qua danh sách Chính phủ đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, thông qua hai bản Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên mở ra tiến trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khóa I kéo dài từ tháng 1/1946 đến tháng 5/1960, là do trong điều kiện đấu tranh cách mạng (kháng chiến chống Pháp và đấu tranh chống Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn), đất nước bị chia cắt, nên không thể tổ chức được một cuộc bầu cử trên cả nước để bầu Quốc hội khóa mới.
Số liệu cơ bản
Nhiệm kỳ: 1/1946-5/1960
Ngày bầu cử: 6/1/1946
Tỉ lệ cử tri đi bỏ phiếu: 89%
Tổng số đại biểu Quốc hội: 403
Số đại biểu được bầu: 333
Số đại biểu không qua bầu cử: 70
Trong 333 đại biểu được bầu có:
10 đại biểu nữ;
34 đại biểu dân tộc thiểu số;
87% là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng;
43% là không đảng phái.
KỲ HỌP ĐẦU TIÊN, QUỐC HỘI KHÓA I
Thời gian: Từ 9h-13 giờ 30 ngày 2/3/1946
Địa điểm: Nhà hát Lớn Hà Nội
Số lượng đại biểu: Gần 300 đại biểu
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I họp ngày 2/3/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, với sự tham dự của gần 300 đại biểu vừa được bầu thông qua Tổng tuyển cử.
Trong kỳ họp rất ngắn, chỉ kéo dài từ 9 giờ sáng đến 13 giờ 30 phút, các đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng số đại biểu Quốc hội thêm 70 người thuộc Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội.
Quốc hội cũng đã thông qua danh sách Chính phủ Liên hiệp kháng chiến Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; thông qua Tuyên ngôn của Quốc hội; bầu Ban Thường trực Quốc hội do ông Nguyễn Văn Tố làm Trưởng Ban Dự thảo Hiến pháp…

Danh sách thông qua
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã:
Công nhận danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; Công nhận danh sách Kháng chiến Ủy viên Hội, với Chủ tịch là ông Võ Nguyên Giáp; Công nhận danh sách Quốc gia Cố vấn đoàn, với ông Cố vấn Tối cao Vĩnh Thụy (tức cựu hoàng Bảo Ðại) làm Ðoàn trưởng.
Bầu Ban Thường trực Quốc hội do ông Nguyễn Văn Tố làm Trưởng Ban.
Bầu Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 11 người.
Các văn bản pháp quy đã thông qua: 2 Hiến pháp; 16 luật, gồm:
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 (Quốc hội thông qua ngày 9/11/1946).
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1960 (Quốc hội thông qua ngày 31/12/1959; Chủ tịch nước ký lệnh ban hành ngày 1/1/1960).
Dự án luật Lao động (thông qua ngày 8/11/1946).
Luật Cải cách ruộng đất (ban hành ngày 19/12/1953).
Luật Ðảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân (ban hành ngày 20/5/1957).
Luật Quy định quyền lập hội (ban hành ngày 20/5/1957).
Luật Quy định quyền tự do hội họp (ban hành ngày 20/5/1957).
Luật về Chế độ báo chí (ban hành ngày 20/5/1957).
Luật Công đoàn (ban hành ngày 5/11/1957).
Luật Quy định Chế độ xuất bản (thông qua ngày 14/9/1957).
Luật Quy định Những trường hợp phạm pháp quả tang và Những trường hợp khẩn cấp (thông qua ngày 14/9/1957).
Luật Cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế (thông qua ngày 14/9/1957).
Luật Quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp (thông qua ngày 14/9/1957).
Luật Tổ chức chính quyền địa phương (thông qua ngày 14-9-1957; ban hành ngày 31/5/1958).
Luật Quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (ban hành ngày 31/5/1958).
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ban hành ngày 13/1/1960).
Luật hôn nhân và gia đình (ban hành ngày 13/1/1960).
Luật Nghĩa vụ quân sự (ban hành ngày 28/4/1960).
CÙNG CHÍNH PHỦ KIÊN QUYẾT BẢO VỆ NỀN ĐỘC LẬP; XÂY DỰNG, CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN DÂN CHỦ NHÂN DÂN
Sau khi ra đời và đi vào hoạt động, trong bối cảnh đất nước đang đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, thử thách, Quốc hội khóa I và Ban Thường trực Quốc hội đã cùng Chính phủ được Quốc hội bầu ra do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đã khẩn trương đưa ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, linh hoạt kịp thời để bảo vệ, gìn giữ nền độc lập; xây dựng, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân; bài trừ nội phản; động viên Nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống; đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ, xóa mù chữ; từng bước xây dựng nền tài chính quốc gia, phát hành giấy bạc; tranh thủ thời gian củng cố lực lượng; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược...
LẬP CHÍNH PHỦ MỚI VÀ THÔNG QUA HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN
Tại Kỳ họp thứ hai (28/10-9/11/1946), Quốc hội khóa I đã biểu quyết tán thành chính sách chung do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, chấp nhận sự từ chức của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến và ủy nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng ra thành lập Chính phủ mới - Chính phủ Kháng chiến, theo nguyên tắc đoàn kết, tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái và bầu Ban Thường trực Quốc hội, gồm 18 thành viên, do ông Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban và các ông Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt làm Phó Trưởng ban. Tại Kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1946, Dự án Luật Lao động và các nghị quyết về nội trị, ngoại giao.
Hiến pháp năm 1946 gồm Lời nói đầu, 7 chương và 70 điều. Đó là “bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà... là một vết tích lịch sử, Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông."
Hiến pháp đó “tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập..., dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do... phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp" (Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh)

HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO BẢO VỆ NỀN ĐỘC LẬP DÂN TỘC
Trước tình hình đất nước ở thế “ngàn cân treo sợi tóc," Quốc hội đã trao quyền quyết định cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
Để giữ gìn nền độc lập, Chính phủ đã thực hiện sách lược ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo để loại bớt kẻ thù, tránh đổ máu, tranh thủ thời gian để củng cố và phát triển lực lượng. Theo đó, thay mặt Chính phủ, ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ 6/3.
Ngày 16/4/1946, Ban Thường trực Quốc hội đã cử phái đoàn gồm 10 đại biểu, do Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm Pháp (từ ngày 25/4 đến 16/5/1946).
Tiếp đó, từ ngày 6/7 đến ngày 13/9/1946, ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu phái đoàn Chính phủ Việt Nam tham dự cuộc đàm phán chính thức Việt-Pháp ở Fontainebleau.
Cuộc đàm phán Việt-Pháp ở Fontainebleau, việc ký Tạm ước 14/9/1946, cũng như phái đoàn Quốc hội Việt Nam sang thăm nước Pháp đã nêu rõ thiện chí hòa bình và hữu nghị của Việt Nam trong mối quan hệ bang giao với nước Pháp. Uy tín của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
QUỐC HỘI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
Những nỗ lực đàm phán hòa bình giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Pháp vào giữa năm 1946 để công nhận một nước Việt Nam độc lập đã không thành công.
Pháp quyết gây chiến tranh, không thi hành Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946 đã ký kết, đòi tước vũ khí của Việt Minh và liên tiếp gây ra các cuộc thảm sát ở Hải Phòng, Hà Nội, đẩy cuộc chiến tranh đến bùng nổ.
Sáng 17/12/1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông, Hội đồng Chính phủ đã họp với sự có mặt của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn để thống nhất quyết định phát động cuộc kháng chiến trong cả nước. Trước tình thế hết sức khẩn trương, đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Từ tháng 12/1946 đến tháng 7/1954, trên cơ sở Hiến pháp được Quốc hội thông qua (9/11/1946) và thực tiễn kháng chiến, Chính phủ đã ban hành khoảng 400 sắc lệnh và nhiều nghị định, thông tư để lãnh đạo cuộc kháng chiến, kiến quốc.
Các sắc lệnh của Chính phủ được ban hành đều có sự thống nhất của Ban Thường trực Quốc hội. Ban Thường trực cũng đã góp ý kiến với Chính phủ về các nghị quyết và chương trình công tác quan trọng.
THÔNG QUA NHỮNG NGHỊ QUYẾT QUAN TRỌNG
Từ ngày 1/12 đến ngày 4/12/1953, Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa 1, Kỳ họp duy nhất được tổ chức tại Việt Bắc, có 166 đại biểu về dự (Bắc Bộ 94 đại biểu, Trung Bộ 62 đại biểu, Nam Bộ 10 đại biểu).
Kỳ họp đã thảo luận và lần lượt thông qua Nghị quyết tín nhiệm Chính phủ; Nghị quyết biểu dương các đại biểu Quốc hội đã từ trần vì đất nước; Nghị quyết truất quyền đại biểu Quốc hội của những đại biểu đã rời bỏ nhiệm vụ kháng chiến và thông qua Dự án Luật Cải cách ruộng đất.

QUỐC HỘI VỚI NHỮNG THẮNG LỢI TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO
Thắng lợi trên mặt trận quân sự là cơ sở để Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Sau khi Hội nghị bốn cường quốc tại Berlin (Đức) đồng ý triệu tập Hội nghị Geneva về Đông Dương, Ban Thường trực Quốc hội đã cùng Chính phủ thống nhất cử Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu đại diện cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị, đồng thời góp ý kiến chỉ đạo việc quyết định ký Hiệp định Geneva.
Đêm 20 rạng ngày 21/7/1954, Hiệp định về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký tại Geneva (Thụy Sĩ).
Ngày 27/7/1954, Ban Thường trực Quốc hội họp Hội nghị mở rộng, ghi nhận thắng lợi trên mặt trận ngoại giao, thông qua Nghị quyết và Lời kêu gọi về việc ký kết các Hiệp định đình chiến ở Đông Dương gửi đại biểu Quốc hội và toàn dân, mở đầu giai đoạn đấu tranh thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Geneva, thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước.
HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG MỚI; QUYẾT ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG
Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa I (20-26/3/1955) họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội. “Khóa họp này là khóa họp đấu tranh để thi hành Hiệp định Geneva, để đẩy mạnh cải cách ruộng đất, để phục hồi và phát triển kinh tế, để nâng cao đời sống nhân dân, để củng cố chính quyền, củng cố Quân đội nhân dân, tiến lên thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Đó cũng là kỳ họp đầu tiên trong hòa bình giữa Thủ đô giải phóng.
Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa I (15/9-20/9/1955) đã đề ra đường lối, phương châm đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ; phương hướng và giải pháp khôi phục kinh tế, củng cố miền Bắc làm cơ sở cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, thống nhất đất nước; đồng thời, quyết định một số vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước, Quốc kỳ, Quốc ca và Quốc huy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
THÔNG QUA CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHÔI PHỤC, PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG
Xây dựng và củng cố miền Bắc là một nhiệm vụ hết sức to lớn và nặng nề được Quốc hội đặc biệt quan tâm. Quốc hội khẳng định nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế quốc dân bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, làm giảm bớt đời sống khó khăn của Nhân dân là nền tảng của toàn bộ công tác củng cố miền Bắc.
Theo đó, tại các Kỳ họp thứ tư và thứ năm, Quốc hội khóa I đã thảo luận kỹ và thông qua Chương trình khôi phục, phát triển kinh tế, xã hội 3 năm (1955-1957) của Chính phủ; đồng thời, thông qua chính sách “Củng cố quốc phòng, củng cố quân đội".
ỦNG HỘ CUỘC ĐẤU TRANH CỦA ĐỒNG BÀO MIỀN NAM
Song song với việc thực hiện những nhiệm vụ khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 1955-1960, củng cố và xây dựng miền Bắc, Quốc hội khóa I đã luôn tỏ rõ ý chí của toàn dân kiên quyết đấu tranh đòi thi hành triệt để Hiệp định Geneva, bày tỏ sự căm phẫn và tố cáo những tội ác của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với nhân dân miền Nam trước nhân dân thế giới.
THÔNG QUA HIẾN PHÁP NĂM 1959
Kỳ họp thứ mười một, Quốc hội khóa I (18-31/12/1959) là một trong những kỳ họp lịch sử của Quốc hội Việt Nam.
Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Hiến pháp năm 1959. Bản Hiến pháp mới gồm 10 chương với 112 điều là nền tảng pháp lý cho thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Hiến pháp năm 1959 gồm Lời nói đầu, 10 chương và 112 điều, ghi rõ nước Việt Nam là một nước thống nhất có nhiều dân tộc, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.
Hiến pháp quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân, xây dựng một Nhà nước kiểu mới dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ theo pháp chế xã hội chủ nghĩa và cơ sở kinh tế của nhà nước là “tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội”.
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI KHÓA I
Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hoạt động giám sát bước đầu được hình thành, thể hiện rõ vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Quốc hội khóa I đã tiến hành giám sát thông qua việc xem xét báo cáo của Chính phủ, chất vấn các thành viên Chính phủ tại các kỳ họp, và ban hành những nghị quyết quan trọng liên quan đến tình hình đất nước.
Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, chiến tranh tiếp diễn, hoạt động giám sát tuy chưa có cơ chế đầy đủ như ngày nay nhưng đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính chủ động và vai trò nền tảng trong việc bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền non trẻ.
Đây chính là dấu ấn khởi đầu cho chức năng giám sát tối cao ngày càng hoàn thiện của Quốc hội trong những nhiệm kỳ tiếp theo.
MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI
Trong nhiệm kỳ khóa I, Quốc hội chưa có điều kiện để cử nhiều phái đoàn đi thăm và làm việc với Quốc hội các nước, song đã cố gắng đặt quan hệ trao đổi thư từ với Quốc hội Trung Quốc, Triều Tiên và nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác.
Quốc hội cũng đã cử đại biểu tham gia các đoàn của Chính phủ đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa.
Hoạt động đối ngoại giai đoạn này nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nhiều nước trên thế giới, mở rộng và phát triển quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước trong phong trào giải phóng dân tộc và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các nước trên thế giới với công cuộc đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc./.

Nhà hát lớn Hà Nội nơi diễn ra kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa I (20/3/1955). (Ảnh: TTXVN)












