Quốc hội thảo luận về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng 27.10, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự (sửa đổi).
Phát biểu mở đầu phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh, Bộ luật Hình sự (sửa đổi) là một dự án đặc biệt quan trọng, được xác định là một Bộ luật có tính nền tảng, trung tâm của hệ thống pháp luật, ngoài các quy định chi tiết cụ thể còn có các nguyên tắc cơ bản, có giá trị chi phối, định hướng nhiều văn bản khác trong hệ thống pháp luật như Kết luận số 09 của Bộ Chính trị.
Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Bộ luật, kèm theo dự thảo Nghị quyết thi hành Bộ luật, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị các vị đại biểu Quốc hội tiếp tục thảo luận, cho ý kiến vào các nội dung mà các đại biểu quan tâm, đi thẳng vào vấn đề, nêu rõ quan điểm, chính kiến, đề xuất cụ thể nội dung, phương án chỉnh lý các điều khoản cụ thể, nhất là những vấn đề đang có ý kiến khác nhau và những vấn đề cần phải đồng bộ, thống nhất với các luật khác.

Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo đã chuẩn bị dự thảo công phu, kỹ lưỡng, thể hiện tư duy lập pháp hiện đại, bảo đảm cân bằng giữa việc nghiêm trị tội phạm nguy hiểm và mở rộng chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước, đại biểu Phan Thị Thùy Linh, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa nhấn mạnh, một bộ luật nghiêm hay không, không nằm ở số tội danh thêm hay bớt. Quan trọng là mỗi quy định có đủ rõ để áp dụng thống nhất và công bằng hay không.
Với tinh thần nêu trên, góp ý về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, đại biểu Phan Thị Thùy Linh cho rằng, dự thảo đã đi đúng hướng khi cá thể hóa trách nhiệm của từng người và tháo gỡ những vướng mắc về tư cách pháp lý. Tuy nhiên, để hoàn thiện chính sách, đại biểu đề nghị cần làm rõ hơn các điều kiện xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân.
Cụ thể, khoản 3 Điều 78 quy định một trong những điều kiện quy trách nhiệm hình sự là hành vi phạm tội có sự “chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại”. Theo đại biểu, cần xác định rõ sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận này được thể hiện qua quyết định, hành vi của cá nhân nào, bộ phận nào và căn cứ vào thẩm quyền nào.
Bởi lẽ, chỉ riêng quan hệ lao động, chức danh quản lý hoặc lợi ích mà pháp nhân thu được từ hành vi phạm tội chưa đủ để quy trách nhiệm hình sự cho pháp nhân.
Đại biểu cũng đề nghị làm rõ quy định tại Điều 78, việc cá nhân thực hiện hành vi đã chết không tự động loại trừ trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải chứng minh hành vi cấu thành tội phạm thuộc phạm vi Điều 79, đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Điều 78 và bảo đảm quyền bào chữa của pháp nhân. Quy định này cần được thống nhất với pháp luật tố tụng hình sự.
Đối với việc áp dụng hình phạt với cá nhân phạm tội trên danh nghĩa pháp nhân, đại biểu nhấn mạnh trách nhiệm của từng người phải được xác định dựa trên hành vi, lỗi và vai trò thực tế. Dự thảo đã thể hiện đúng hướng này tại khoản 2 Điều 84.
Theo đó, đại biểu đề nghị nhất quán nguyên tắc: Không lấy chức danh làm chứng cứ buộc tội, mà phải xem xét đầy đủ trách nhiệm của người thực tế đã quyết định, trực tiếp chỉ đạo hoặc tổ chức thực hiện hành vi phạm tội.

Đại biểu Phan Thị Thùy Linh phát biểu
Tán thành với việc dự thảo cấu trúc lại các tội phạm trên không gian mạng theo chuỗi hành vi, từ chuẩn bị, tổ chức đến thực hiện, đại biểu Phan Thị Thùy Linh cho rằng, cách tiếp cận mới này phù hợp với thực tiễn phát triển công nghệ hiện đại và thực tiễn đấu tranh với các vụ tống tiền quy mô lớn trên mạng thời gian gần đây.
Tuy nhiên, tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản qua mạng tại Điều 157 chưa thuộc danh mục được xử lý từ giai đoạn chuẩn bị tại Điều 14; trong khi để lừa đảo, đối tượng phải chuẩn bị từ trước như: mua gom tài khoản ngân hàng, mua sim không chính chủ, dựng trang web giả mạo...
Do vậy, đại biểu cho rằng cần rà soát kỹ đối với nội dung này để có thể ngăn chặn hành vi phạm tội ngay từ khâu chuẩn bị, qua đó hạn chế thiệt hại trước khi tiền của người dân thực sự bị chuyển đi.
Đối với khoản 1 Điều 276, đại biểu lưu ý cần phân biệt công cụ phạm tội với công cụ được sử dụng trong hoạt động bảo mật hợp pháp. Cùng một phần mềm, chuyên gia bảo mật có thể sử dụng để kiểm thử hệ thống, trong khi tin tặc dùng để xâm nhập.
Dự thảo xác định dấu hiệu định tội là thiết bị, phần mềm “được thiết kế hoặc chỉnh sửa có tính năng chủ yếu để thực hiện tội phạm”. Đại biểu đánh giá đây là tiêu chí xác đáng, song đề nghị làm rõ thêm mục đích phạm tội của người thực hiện hành vi, bởi không thể chỉ căn cứ vào tính năng kỹ thuật của công cụ để kết luận về mục đích phạm tội.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 276 quy định loại trừ đối với hoạt động nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin mạng được chủ hệ thống thông tin phân quyền hoặc thực hiện theo hợp đồng hợp pháp, không thuộc trường hợp sử dụng vào mục đích trái pháp luật.
Việc hoàn thiện quy định cần bảo đảm xử lý nghiêm hành vi cố ý phạm tội trên không gian mạng, đồng thời phân biệt rõ với các hoạt động thử nghiệm hợp pháp như tấn công giả định, qua đó bảo vệ đội ngũ an ninh mạng.
Nhấn mạnh mỗi thay đổi chính sách đều phải đi cùng căn cứ quy trách nhiệm rõ ràng, đại biểu Phan Thị Thùy Linh cho rằng mục tiêu cần hướng tới là bảo vệ người dân trước nguy cơ lừa đảo từ sớm; bảo đảm doanh nghiệp chân chính không bị quy trách nhiệm vì sai phạm của một cá nhân; đồng thời giúp kỹ sư bảo mật yên tâm làm việc, không lo bị coi là tin tặc.
Theo đại biểu, pháp luật hình sự nghiêm minh là khi người có tội không thể trốn tránh trách nhiệm, còn người không có tội luôn được bảo vệ. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) đang đi theo hướng đó.

Các đại biểu dự phiên thảo luận sáng 27.10
Tán thành và đánh giá rất cao quy định chính sách khoan hồng đối với người tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 57 dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), đại biểu Lê Văn Đông, Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, quy định như vậy bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với chế định thủ tục tố tụng tương ứng tại chương 31 dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) đã được cấp có thẩm quyền kết luận.
Đây không chỉ là một quy định mang tính kỹ thuật lập pháp mà là một bước đột phá, mang đậm tính nhân văn của tư pháp hình sự hiện đại.
Để hoàn thiện chính sách quan trọng này, đại biểu Lê Văn Đông tham gia phân tích 4 nội dung:
Thứ nhất, tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt được đề nghị là một căn cứ khoan hồng, có bản chất pháp lý và mục tiêu chính sách riêng, không đồng nhất với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Theo đại biểu Lê Văn Đông, tình tiết giảm nhẹ phản ánh tính chất hành vi, nhân thân, thái độ của người phạm tội làm căn cứ để tòa án có thể hóa hình phạt, không đòi hỏi chấp nhận hình phạt mà và không gắn với đơn giản hóa thủ tục.
Còn tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt là sự thể hiện tổng hợp thái độ, thừa nhận trách nhiệm, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng và chấp nhận hình phạt được đề nghị theo điều kiện luật định, phản ánh thái độ tâm phục, khẩu phục, tự nguyện tự nhận hậu quả, trách nhiệm pháp lý hình sự của người phạm tội.
Qua đó rút ngắn thời gian giải quyết, tiết kiệm nguồn lực tố tụng, tập trung nguồn lực cho những vụ án phức tạp.
Vì vậy, không thể đồng nhất cơ chế này với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quy định bổ sung tại khoản 1 điều 57 nhằm xác lập một trường hợp riêng để khoan hồng gắn với thủ tục tố tụng đặc biệt, mở rộng điều kiện khoan hồng, tạo động lực để người phạm tội chủ động hợp tác và tự nguyện chấp nhận trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, chính sách này cần được ghi nhận đầy đủ và phân hóa ở các mức độ khác nhau. Người tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt thể hiện sự tâm phục khẩu phục, giúp tố tụng thuận lợi, nhanh chóng nên xứng đáng được quy định để Tòa án xem xét quyết định áp dụng trường hợp với mức độ khoan hồng khác nhau.
Do đó, theo đại biểu, Điều 57 cần quy định mức khoan hồng với điều kiện giới hạn cụ thể tại khoản 1 và khoản 2, tương xứng với tính chất hành vi và nỗ lực sửa chữa của người phạm tội. Trường hợp đã tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả thì được xem xét mức khoan hồng cao hơn theo khoản 2. Quy định thế này tạo động lực để người phạm tội chủ động bồi thường, khắc phục hậu quả, bảo vệ quyền lợi của bị hại, đó là sự kết hợp giữa tính nghiêm minh và tính nhân văn của pháp luật.
Thứ ba, giá trị quan trọng của chính sách là thúc đẩy công lý thực chất, phục hồi những lợi ích bị xâm hại và hàn gắn các quan hệ xã hội bị tội phạm tác động. Hiệu quả tư pháp không chỉ đo bằng việc vụ án được giải quyết nhanh, đúng pháp luật mà còn ở chỗ tồn tại được khắc phục, bị hại được bù đắp, quan hệ xã hội được hàn gắn, niềm tin vào công lý được củng cố và người phạm tội có điều kiện tái hòa nhập cộng đồng.
Sự hợp tác thực chất còn giúp thu hẹp những vấn đề cần giải quyết, hạn chế hoạt động tố tụng không cần thiết, đây là cơ sở thực tiễn để xác lập căn cứ khoan hồng tại cả khoản 1 và khoản 2 điều 57, bảo đảm đồng bộ giữa chính sách hình sự và thủ tục tố tụng hình sự.
Thứ tư, phải bảo đảm tính tự nguyện và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự. Đối với chế định này, dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) cũng đã có những quy định hết sức chặt chẽ. Việc nhận tội phải hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với chứng cứ khách quan, lời nhận tội không thay thế trách nhiệm chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng, không phải là chứng cứ duy nhất để kết tội, buộc tội.
Giảm hình phạt trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt được đề nghị là một chính sách khoan hồng có giá trị pháp lý và mục tiêu chính sách riêng, cần được quy định đồng bộ với cơ chế tố tụng hình sự tương ứng.
“Không thể thiết kế một thủ tục tố tụng đặc biệt yêu cầu người phạm tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt nhưng lại không thiết kế một chính sách khoan hồng riêng đủ sức khuyến khích để họ lựa chọn”, đại biểu Lê Văn Đông nhấn mạnh.
