Quốc hội Việt Nam - 80 năm phục vụ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển kể từ dấu mốc lịch sử ngày 6/1/1946, Quốc hội không ngừng lớn mạnh, khẳng định rõ nét vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trong chặng đường vẻ vang đó, từ Quốc dân Đại hội Tân Trào (ngày 16/8/1945), tiền thân của Quốc hội Việt Nam ngày nay, đến cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (6/1/1946) bầu ra Quốc hội Khóa I, tổ chức và hoạt động của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân luôn thấm đẫm tư tưởng
Điều này được các đại biểu, chuyên gia, nhà khoa học tiếp tục khẳng định tại Hội thảo khoa học quốc gia “Quốc hội Việt Nam - 80 năm hình thành và phát triển”.
“Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”
Ngược dòng lịch sử có thể thấy, Quốc dân Đại hội Tân Trào với những quyết định trọng đại đối với dân tộc đã thể hiện rõ nét tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình, vai trò và sứ mệnh của Quốc hội Việt Nam sơ khai.
Sau thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh ngặt nghèo, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội Khóa I của nước Việt Nam mới đã được tổ chức trên cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ vai trò quan trọng của Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước.
Trong phát biểu khai mạc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội Khóa I, Người nói: “… Trong cuộc toàn quốc đại biểu đại hội này, các đảng phái đều có đại biểu mà đại biểu không đảng phái cũng nhiều, đồng thời phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số cũng đều có đại biểu. Vì thế cho nên các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam…”[1].
Với Người, Quốc hội chính là tiêu biểu cho tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, cho chí khí quật cường của dân tộc và quyết tâm giành độc lập, tự do, hạnh phúc của toàn thể đồng bào. Quốc hội “có đại biểu của tất cả các giai cấp yêu nước, của tất cả các dân tộc anh em, các tôn giáo, các đảng phái, của đồng bào Bắc, Trung, Nam. Tất cả chúng ta đều phải tăng cường đoàn kết… Quốc hội đoàn kết nhất trí, toàn dân đoàn kết nhất trí, thì khó khăn nào chúng ta cũng khắc phục được và thắng lợi nhất định về tay ta…”[2].
Để có thể đảm trách được nhiệm vụ cao cả mà quốc dân giao phó, Quốc hội phải bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nhân dân có quyền làm chủ thực sự. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”[3]. Điều đó có nghĩa là mọi chính sách, pháp luật của Quốc hội đều phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Từ đó đến nay, trải qua 80 năm với 15 nhiệm kỳ, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là kim chỉ nam định hướng cho tổ chức và mọi hoạt động của Quốc hội.
“Quốc hội ta đã hết lòng vì dân, vì nước…”
Nhìn lại chặng đường 80 năm Quốc hội phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, GS.TS Lê Văn Lợi khái quát thành 4 giai đoạn.
Giai đoạn thứ nhất (1946 - 1954), đây là giai đoạn Quốc hội đặt nền móng xây dựng nền dân chủ của nước Việt Nam mới. Ngay sau khi được bầu, tại kỳ họp đầu tiên (ngày 2/3/1946), Quốc hội Khóa I đã thành lập được một Chính phủ hợp hiến, hợp pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và “trao quyền bính cho chính quyền ấy” bảo đảm cho Chính phủ đủ uy tín, hiệu lực để tổ chức nhân dân kháng chiến và kiến quốc.
Ra đời trong bối cảnh đầy khó khăn, thử thách bởi "thù trong giặc ngoài", nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946, đặt cơ sở pháp lý cho chế độ dân chủ cộng hòa, phát huy tinh thần và trí tuệ của dân tộc để kháng chiến và kiến quốc, GS.TS Lê Văn Lợi khẳng định.
Mặc dù trong thời kỳ kháng chiến, Quốc hội không họp được thường xuyên, nhưng thông qua vai trò của Ban Thường trực, Quốc hội đã cho ý kiến với các chủ trương, chính sách của Chính phủ, sát cánh cùng Chính phủ tổ chức, chỉ đạo mọi hoạt động kháng chiến, kiến quốc, hoàn thành xuất sắc trọng trách mà nhân dân giao phó trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.
Giai đoạn 1954 - 1975, Quốc hội trong thời kỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà.
Sau Hiệp định Geneva năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc hòa bình quá độ đi lên CNXH, trở thành hậu phương lớn chi viện cho cách mạng miền Nam đánh Mỹ; miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Trong những năm cuối của Quốc hội Khóa I (1954 - 1960), và từ Khóa II (1960 - 1964) đến Khóa V (1975 - 1976), Quốc hội hoạt động trong thời kỳ lịch sử hào hùng của quá trình xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo quy định của Hiến pháp năm 1959. Quốc hội đã triển khai thực hiện đường lối, nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) và Hiến pháp năm 1959. Quốc hội đã bầu các cơ quan và chức danh lãnh đạo nhà nước cấp cao, thông qua kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) và các kế hoạch kinh tế ngắn hạn, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật cũng như quyết định nhiều chính sách quan trọng khác của quốc gia, xứng đáng với lời biểu dương của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân, vì nước, đã làm tròn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu của nhân dân”[4].
Giai đoạn 1976 - 1986: Quốc hội cùng cả nước bước vào giai đoạn khắc phục hậu quả chiến tranh, quá độ đi lên CNXH.
Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thu non sông về một mối, ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Khóa VI đã được tiến hành trên cả nước. Từ đây, chúng ta có Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất, huy động sức mạnh của toàn dân tộc vào quá trình khắc phục hậu quả chiến tranh, cả nước quá độ lên CNXH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Giai đoạn này, Quốc hội hoạt động trong điều kiện cả nước có những thuận lợi đan xen khó khăn, thách thức và để lại những dấu ấn quan trọng. Trong đó, bản Hiến pháp năm 1980 được Quốc hội Khóa VI thông qua đã khẳng định bản chất Nhà nước XHCN của Việt Nam, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng trong thời kỳ quá độ lên CNXH trong phạm vi cả nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IV của Đảng năm 1976.
Với vai trò cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc hội đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trước cử tri cả nước, hướng trọng tâm hoạt động vào công tác lập pháp, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội V của Đảng năm 1982. Đồng thời, đẩy mạnh công tác giám sát, phát huy chức năng của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước và các cơ quan thường trực của Quốc hội, tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Giai đoạn 1986 - 2025: Quốc hội trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế với 8 khóa, từ Quốc hội Khóa VIII (1987 - 1992) đến Khóa XV (2021 - 2026). Đây là giai đoạn khởi đầu triển khai sự nghiệp Đổi mới toàn diện do Đại hội VI của Đảng ta đề ra nhằm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ quốc tế, đưa đất nước sớm ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, vững bước trên con đường XHCN.
Thấm nhuần hơn nữa quan điểm “Dân là gốc”
Trong suốt gần 40 năm Đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng năm 1986 để đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay có đóng góp to lớn của Quốc hội.
Trước tình hình quốc tế và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, những năm đầu Đổi mới, Quốc hội đã thông qua nhiều luật, đạo luật có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990... và sửa đổi Hiến pháp năm 1980 một cách cơ bản, toàn diện, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Hiến pháp mới được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ Mười một năm 1992 đã thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 do Đại hội VII của Đảng (1991) đề ra.
Tại Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX năm 2001. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tiếp tục cải tổ bộ máy nhà nước, đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
Trong giai đoạn này, Quốc hội đã xem xét, thông qua Hiến pháp năm 2013 và nhiều luật, bộ luật quan trọng. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã thể hiện rõ tinh thần đề cao vai trò làm chủ của nhân dân, phát huy dân chủ XHCN; là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ về kinh tế, chính trị, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã tích cực thực hiện hoạt động lập pháp, thể chế hóa kịp thời và đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, từng bước xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tạo ra khung pháp lý cho việc hình thành và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN...
Trong bối cảnh mới hiện nay, trên cơ sở kế thừa, phát huy những thành quả, kinh nghiệm của 80 năm xây dựng và phát triển dưới nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, một trong những giải pháp được GS.TS Lê Văn Lợi kiến nghị, đó là kiên định thực hiện đúng đắn, sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, luôn vì lợi ích của đất nước, của nhân dân là nhân tố quyết định để Quốc hội hoàn thành trọng trách mà nhân dân tin tưởng giao phó.
Thông qua hoạt động lập hiến, lập pháp, giám sát, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội thể chế hóa kịp thời Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng. Đồng thời, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Quốc hội sẽ tăng cường hơn không khí dân chủ, cởi mở, phát huy trí tuệ của đại biểu, nâng cao hiệu lực, hiệu quả các hoạt động của Quốc hội.
Cùng với đó, cần quán triệt và thấm nhuần hơn nữa quan điểm “Dân là gốc”, gắn bó mật thiết với Nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, bảo đảm để Quốc hội bám sát sự vận động của đời sống kinh tế - xã hội, có những quyết sách đúng đắn, kịp thời, sát thực tiễn, hợp lòng dân.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.217
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.466
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.258
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.550












