Quy định mới về xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa trong nước
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Nghị định số 384/2026/NĐ-CP quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước.

Hàng Việt Nam được xác định xuất xứ theo quy định mới
Nghị định này quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước, bao gồm: hàng hóa có xuất xứ, hàng hóa có xuất xứ thuần túy, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, công đoạn gia công, chế biến đơn giản; yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Theo Nghị định, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp: Hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam.
Trong trường hợp cần thiết, bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng quy định riêng về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam đối với mặt hàng có tính chất đặc thù thuộc phạm vi quản lý, đảm bảo phù hợp quy định tại Nghị định này.
Nghị định nêu rõ, hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam; Động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam; Sản phẩm từ động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam;
Sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm hoặc săn bắt tại Việt Nam; Khoáng sản và chất sản sinh tự nhiên được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam.
Sản phẩm lấy từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của Việt Nam, với điều kiện Việt Nam có quyền khai thác đối với vùng nước, đáy biển và dưới đáy biển theo luật pháp quốc tế.
Ngoài ra, sản phẩm đánh bắt và hải sản khác đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu được đăng ký ở Việt Nam và được phép treo cờ của Việt Nam.
Vật phẩm thu được trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng ở Việt Nam hiện không còn thực hiện được chức năng ban đầu, không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên liệu, vật liệu thô, hoặc sử dụng vào mục đích tái chế...
Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp sau: Chuyển đổi mã số hàng hóa; Có hàm lượng VVC (hàm lượng giá trị Việt Nam) tối thiểu 30% được xác định theo công thức được quy định;
Trị giá của vật liệu đóng gói và bao bì chứa đựng hàng hóa là một phần cấu thành nên hàng hóa và được tính vào hàm lượng VVC.
Đối với hàng hóa thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ số, các công đoạn tạo ra giá trị sản phẩm thực hiện tại Việt Nam được tính vào hàm lượng VVC, bao gồm: chi phí nghiên cứu, phát triển; chi phí thiết kế, lập trình, số hóa, tự động hóa; chi phí thử nghiệm kỹ thuật và kiểm thử phần mềm gắn liền với quy trình tạo ra sản phẩm. Công đoạn gia công, chế biến đơn giản quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định này và yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ quy định tại Điều 8 Nghị định này không áp dụng đối với khoản này.
Thương nhân lựa chọn công thức trực tiếp hoặc công thức gián tiếp, áp dụng trong năm tài chính.
