Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Hành vi chuyển đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ thuộc địa giới hành chính của xã với diện tích từ 2 héc ta trở lên, sẽ bị phạt từ 150.000.000- 200.000.000 đồng...
Hành vi chuyển đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ thuộc địa giới hành chính của xã với diện tích từ 2 héc ta trở lên, sẽ bị phạt từ 150.000.000- 200.000.000 đồng...

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai. Ảnh:chinhphu.vn
Ngày 27/7/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành văn bản hợp nhất số 73/2026/VBHN-NĐ-BNNMT quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Theo đó, đối với hành vi chuyển đất trồng lúa sang loại đất khác trong nhóm đất nông nghiệp thì bị phạt tiền từ 2.000.000- 3.000.000 đồng với diện tích đất dưới 0,5 héc ta. Mức phạt tiền từ 10.000.000- 30.000.000 đồng với diện tích đất từ 03 héc ta trở lên.
Với hành vi chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) thuộc địa giới hành chính của xã, mức phạt tiền từ 100.000.000- 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ trên 02 héc ta trở lên.
Đối với hành vi chuyển đất trồng lúa sang đất ở thuộc địa giới hành chính của xã, mức phạt tiền từ 20.000.000- 30.000.000 đồng với diện tích đất từ dưới 0,01 héc ta. Phạt tiền từ 100.000.000- 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta. Mức phát từ 150.000.000- 200.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta trở lên.

Quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả. Ảnh: Tùng Nguyễn
Còn với hành vi chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp thuộc địa giới hành chính của phường thì hình thức và mức xử phạt bằng 2 lần mức phạt tương ứng với quy định trên.
Bên cạnh đó, các đơn vị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai); đồng thời buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Các hành vi chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) thuộc địa giới hành chính của xã, mức phạt tiền từ 100.000.000- 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 02 héc ta trở lên.
Còn với hành vi chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang đất ở thuộc địa giới hành chính của xã, mức xử phạt từ 150.000.000- 200.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta trở lên.
Văn bản cũng quy định cụ thể hành vi và mức phạt với các hành vi sử dụng đất trong nhóm đất phi nông nghiệp vào mục đích khác mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Theo đó, với hành vi chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang loại đất phi nông nghiệp khác (không phải là đất ở) được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thuộc địa giới hành chính của xã thì bị phạt tiền từ 150.000.000- 200.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 02 héc ta trở lên.
Đáng chú ý, theo quy định mới, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 250.000.000 đồng, gấp 5 lần so với quy định trước đây (5.000.000 đồng).
Mức phạt này cũng áp dụng với hành vi chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở thuộc địa giới hành chính của xã với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên.
Hành vi chuyển đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ thuộc địa giới hành chính của xã với diện tích đất dưới 0,1 héc ta bị phạt tiền từ 10.000.000- 20.000.000 đồng. Mức phạt sẽ tăng lên thành 100.000.000- 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 01 héc ta đến dưới 02 héc ta. Với diện tích từ 2 héc ta trở lên, mức phạt từ 150.000.000- 200.000.000 đồng.
Theo quy định, các hành vi chuyển mục đích sử dụng đất tại khu vực thuộc địa giới hành chính của phường thì mức xử phạt bằng 2 lần mức xử phạt đối với từng loại đất tương ứng.
Quy định cũng nêu cụ thể các hành vi và mức xử phạt với các hành vi hủy hoại đất; cản trở, gây khó khăn cho việc sử dụng đất của người khác; không đăng ký đất đai; chuyển quyền, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp bằng quyền sử dụng đất mà không đủ điều kiện theo quy định; chuyển quyền, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp đối với đất không thuộc trường hợp được chuyển quyền, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp theo quy định…
Theo quy định, tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không có phương án sử dụng đất được UBND cấp có thẩm quyền chấp thuận theo quy định tại khoản 6 Điều 45 Luật Đất đai thì có thể bị phạt tiền từ 100.000.000- 200.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 03 héc ta trở lên.
Phạt tiền từ 50.000.000- 100.000.000 đồng đối với cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất lúa vượt hạn mức mà không thành lập tổ chức kinh tế quy định tại khoản 7 Điều 45 Luật Đất đai.
Chủ đầu tư đã được Nhà nước cho thuê đất để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm mà cho thuê lại đất dưới hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê thì mức phạt sẽ từ 100.000.000- 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 01 héc ta đến dưới 02 héc ta. Với diện tích từ 2 héc ta trở lên, mức phạt tiền từ 150.000.000- 200.000.000 đồng.
Bên cạnh phạt tiền, buộc chủ đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và bên thuê lại đất phải ký lại hợp đồng thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm.











