Quy định về đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội
Quy định về đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội được Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành tại Thông tư số 106/2026/TT-BTC.

Quy định về đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội
Thông tư này quy định về đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội, bao gồm hồ sơ, trình tự, thủ tục, hệ thống biểu mẫu sử dụng trong đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đăng ký hoạt động Ngân hàng Chính sách xã hội; chuẩn hóa dữ liệu, cung cấp thông tin đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
Cơ quan đăng ký hoạt động Ngân hàng Chính sách xã hội
Thông tư nêu rõ, Cơ quan đăng ký hoạt động Ngân hàng Chính sách xã hội là Cơ quan đăng ký kinh doanh thuộc Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Cơ quan đăng ký kinh doanh).
Cơ quan đăng ký kinh doanh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Tiếp nhận hồ sơ đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội; xem xét tính hợp lệ của hồ sơ; cấp đăng ký hoạt động cho Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc đề nghị Ngân hàng Chính sách xã hội sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hoạt động.
Hướng dẫn Ngân hàng Chính sách xã hội, cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến việc đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
Thực hiện việc chuyển đổi dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu, hiệu đính thông tin đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội tại địa phương vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Cung cấp thông tin đăng ký hoạt động Ngân hàng Chính sách xã hội lưu trữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong phạm vi địa phương quản lý cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Cơ quan quản lý thuế tại địa phương, theo yêu cầu của cơ quan phòng, chống rửa tiền thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan có liên quan theo quy định pháp luật.
Yêu cầu Ngân hàng Chính sách xã hội báo cáo về việc tuân thủ các quy định về đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
Trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát Ngân hàng Chính sách xã hội theo nội dung trong hồ sơ đăng ký hoạt động.
Định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tài chính, các cơ quan liên quan về tình hình đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn theo quy định về chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước.
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội
Ngân hàng Chính sách xã hội được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của chi nhánh, phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội khi có hồ sơ đăng ký hoạt động hợp lệ.
Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của chi nhánh, phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội được ghi trên cơ sở thông tin trong hồ sơ đăng ký hoạt động do Ngân hàng Chính sách xã hội kê khai.
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký thuế của Ngân hàng Chính sách xã hội, chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội.
Trường hợp Ngân hàng Chính sách xã hội được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của chi nhánh, phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội mới thì giấy chứng nhận đã cấp trước đó không còn hiệu lực.
Trình tự, thủ tục đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội
Thông tư nêu rõ, Ngân hàng Chính sách xã hội nộp 01 bộ hồ sơ đến Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi Ngân hàng Chính sách xã hội đặt trụ sở chính khi thực hiện thủ tục đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi đặt trụ sở chi nhánh, phòng giao dịch của Ngân hàng Chính sách xã hội khi thực hiện thủ tục đăng ký hoạt động của chi nhánh, phòng giao dịch theo phương thức sau:
1- Đăng ký trực tiếp tại Cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh;
2- Đăng ký qua dịch vụ bưu chính;
3- Đăng ký qua mạng thông tin điện tử.
Trường hợp nộp hồ sơ bằng bản giấy trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính:
Hồ sơ đăng ký hoạt động được tiếp nhận để nhập thông tin vào Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi có đủ giấy tờ theo quy định tại các Điều 12, 13, 14, 15 và 17 Thông tư này và có số điện thoại của người nộp hồ sơ.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký hoạt động, Cơ quan đăng ký kinh doanh trao giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả cho người nộp hồ sơ.
Cơ quan đăng ký kinh doanh nhập đầy đủ, chính xác thông tin trong hồ sơ đăng ký hoạt động, số hóa, đặt tên văn bản điện tử tương ứng với tên loại giấy tờ trong hồ sơ đăng ký bằng bản giấy và đính kèm lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho Ngân hàng Chính sách xã hội trong thời hạn quy định tại các Điều 12, 13, 14, 15 và 17 Thông tư này.
Trường hợp nộp hồ sơ qua mạng thông tin điện tử:
Người nộp hồ sơ đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Người nộp hồ sơ kê khai thông tin tại các trường thông tin trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và tải các giấy tờ trong thành phần hồ sơ lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Trường hợp người nộp hồ sơ là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký hoạt động Ngân hàng Chính sách xã hội, đối với các giấy đề nghị, thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và chỉ yêu cầu người nộp hồ sơ ký thì người nộp hồ sơ không phải thực hiện ký số và tải giấy đề nghị hoặc thông báo lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đối với các giấy tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải bảo đảm các giấy tờ này được ký trực tiếp hoặc ký số theo quy định, được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Trường hợp người nộp hồ sơ là người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký hoạt động Ngân hàng Chính sách xã hội, người nộp hồ sơ tải các giấy tờ trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Các giấy tờ này phải được ký trực tiếp hoặc ký số theo quy định và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử.
Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ, người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả điện tử.
Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và trả kết quả giải quyết hồ sơ trong thời hạn quy định tại các Điều 12, 13, 14, 15 và 17 Thông tư này. Người nộp hồ sơ đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, nhận thông tin phản hồi về kết quả xử lý hồ sơ.
Cơ quan đăng ký kinh doanh ghi toàn bộ yêu cầu sửa đổi, bổ sung đối với mỗi một bộ hồ sơ do Ngân hàng Chính sách xã hội nộp trong một thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ. Thời hạn để Ngân hàng Chính sách xã hội sửa đổi, bổ sung hồ sơ là 30 ngày kể từ ngày Cơ quan đăng ký kinh doanh ra thông báo về việc sửa đổi, bổ sung hồ sơ. Sau thời hạn nêu trên, nếu Ngân hàng Chính sách xã hội không nộp hồ sơ sửa đổi, bổ sung thì hồ sơ đã nộp không còn giá trị. Cơ quan đăng ký kinh doanh hủy hồ sơ theo quy trình trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp./.











