Quy định về tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2026/NĐ-CP ngày 13/02/2026 quy định về tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.

Quy định về tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Nghị định này quy định chi tiết khoản 1, 2 và 3 Điều 45a, Điều 45b, Điều 45c, khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 45d Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp về tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Nghị định này áp dụng đối với tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, thành phần của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Chức năng, nhiệm vụ của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Khoản 2 Điều 45a Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp quy địnhtổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia có chức năng, nhiệm vụ sau đây:
a) Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh, trọng tâm là các nhóm sản phẩm, dịch vụ: sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an toàn, an ninh mạng; sản phẩm, dịch vụ công nghiệp dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu lớn quốc gia; sản phẩm kỹ thuật nghiệp vụ, kỹ thuật hình sự, công cụ hỗ trợ, quân trang ngành công an; phương tiện tuần tra trên tuyến ven biển, tuyến sông; sản phẩm phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; sản phẩm công nghệ sinh học đặc thù phục vụ an ninh sinh học; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, công nghệ, dịch vụ bảo đảm an ninh hàng không; sản phẩm, dịch vụ khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Bộ trưởng Bộ Công an quyết định danh mục sản phẩm, dịch vụ cụ thể thuộc các nhóm sản phẩm, dịch vụ quy định tại khoản này;
b) Làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi, chuyển giao, tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại;
c) Huy động nguồn lực quốc gia phát triển công nghiệp an ninh;
d) Nghiên cứu, sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ phục vụ dân sinh, chuyển giao công nghệ phù hợp cho công nghiệp dân sinh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
đ) Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, tham gia xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
Nghị định quy định tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia có chức năng, nhiệm vụ như sau:
1. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh theo quy định tại khoản 2 Điều 45a Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp. Căn cứ tình hình thực tế, yêu cầu, nhiệm vụ phát triển công nghiệp an ninh và bảo đảm an ninh, trật tự, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định danh mục sản phẩm, dịch vụ cụ thể thuộc các nhóm sản phẩm, dịch vụ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 45a Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; định kỳ hằng năm hoặc đột xuất xem xét điều chỉnh, bổ sung.
2. Nghiên cứu, làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ lưỡng dụng; chuyển giao, tiếp nhận chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
3. Huy động tối đa các nguồn lực của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia phát triển công nghiệp an ninh, gồm:
a) Xây dựng và áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh;
b) Sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước, Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp an ninh và nguồn vốn từ các tổ chức tài chính, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các tổ chức quốc tế;
c) Thực hiện tiếp nhận chuyển giao công nghệ, hỗ trợ về nhân lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài;
d) Xây dựng, tiếp nhận và sử dụng hiệu quả các khu công nghiệp an ninh, khu công nghiệp an ninh lưỡng dụng, phòng thí nghiệm, hệ thống cơ sở hạ tầng do Nhà nước đầu tư hoặc tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia;
đ) Huy động các nguồn lực hợp pháp khác để thực hiện nhiệm vụ được giao.
4. Nghiên cứu, sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh phục vụ nhu cầu của lực lượng Công an nhân dân, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. Chuyển giao công nghệ lưỡng dụng, phù hợp cho các tổ chức, doanh nghiệp để hợp tác, liên doanh, liên kết nghiên cứu, sản xuất sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
5. Đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghiệp an ninh tập trung vào các quốc gia, doanh nghiệp có trình độ khoa học và công nghệ phát triển. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
Thành phần tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Theo Nghị định, thành phần tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia gồm:
1. Hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia là cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt.
2. Thành viên tham gia tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia gồm một trong các loại hình sau:
a) Tổ chức, doanh nghiệp trong lực lượng Công an nhân dân;
b) Tổ chức, doanh nghiệp ngoài lực lượng Công an nhân dân.
Hạt nhân và thành viên tham gia tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia hợp tác dưới hình thức liên doanh, liên kết, ký hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
Hội đồng quản lý phát triển công nghiệp an ninh điều phối toàn diện hoạt động của các thành phần tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia thông qua các cơ chế, chính sách, giao nhiệm vụ, đặt hàng, lựa chọn nhà thầu, hỗ trợ nguồn lực, hợp tác công tư. Bộ trưởng Bộ Công an quyết định cơ quan kiêm nhiệm thực hiện nhiệm vụ thường trực của Hội đồng quản lý phát triển công nghiệp an ninh.
Điều kiện cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt là hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Nghị định quy định điều kiện để cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt là hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia như sau:
1. Chủ trì nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thành công ít nhất một loại sản phẩm, dịch vụ thuộc danh mục sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh, có công nghệ hiện đại, tính ưu việt, được sử dụng rộng rãi trong nước.
2. Có khả năng ứng dụng, phát triển hoặc tạo ra công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi trong nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
3. Có đơn vị nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh trong cơ cấu tổ chức.
4. Có cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ thiết kế, chế tạo, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
5. Có nhân lực đảm bảo hoạt động quản lý, điều hành, nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất và hoàn chỉnh sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
Công nhận hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Nghị định quy địnhcơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt đề nghị công nhận là hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính hoặc trên môi trường điện tử đến Hội đồng quản lý phát triển công nghiệp an ninh; không phải nộp các thành phần hồ sơ đã được số hóa, lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và liên thông điện tử.
Hồ sơ đề nghị công nhận là hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, gồm:
a) Văn bản đề nghị công nhận là hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia theo Mẫu số 1 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Tài liệu về: Tên, loại hình, địa chỉ, địa bàn hoạt động, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt; các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh được cơ quan chức năng giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc chỉ định thầu trong 05 năm gần nhất tính đến thời điểm đề nghị công nhận;
c) Báo cáo thuyết minh và các tài liệu chứng minh (nếu có) đáp ứng các điều kiện theo quy định;
Trường hợp thành phần hồ sơ không đủ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Hội đồng quản lý phát triển công nghiệp an ninh thông báo bằng văn bản yêu cầu cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt bổ sung hồ sơ.
Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Hội đồng quản lý phát triển công nghiệp an ninhkiểm tra, đánh giá việc đáp ứng điều kiện quy định của cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt, báo cáo Bộ trưởng Bộ Công an xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc công nhận cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt là hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia; Hội đồng quản lý phát triển công nghiệp an ninhthông báo kết quả cho cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt bằng văn bản; trường hợp không được công nhận phải nêu rõ lý do.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 13/02/2026.











