Quy hoạch 100 năm TP. Hồ Chí Minh: Đừng để mục tiêu kinh tế lấn át giá trị tự nhiên
Bản quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh tầm nhìn 100 năm đang được thành phố xây dựng với những con số đầy tham vọng: GRDP đạt 800 tỷ USD vào năm 2050, định vị là siêu đô thị toàn cầu với mô hình 5 cực - 5 trục - 10 vùng quản trị...

Cụm Cảng Cái Mép - Thị Vãi đã hình thành sẵn có.
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về bản quy hoạch này, TS Phó Đức Tùng, chuyên gia độc lập về quy hoạch đô thị, cho rằng điều quyết định sự thành bại không phải là tham vọng của tầm nhìn, mà là cách tiếp cận: Liệu chúng ta có đang đặt đúng câu hỏi từ đầu hay không?.
Thưa ông, với tư cách là chuyên gia theo dõi quá trình này, ông nhìn nhận bản quy hoạch tổng thể TP.Hồ Chí Minh tầm nhìn 100 năm đang được xây dựng như thế nào?
Tầm nhìn của bản quy hoạch này thực ra khá đầy đủ và rõ nét, đó là hình thành siêu đô thị quốc tế, đô thị biển, lấy con người làm trung tâm, phát triển xanh. Đây là những định hướng đúng, nhưng tầm nhìn mới chỉ là phần khởi đầu. Điều tôi lo ngại hơn là chúng ta đang thiếu một hệ cơ sở để kiểm chứng xem những mục tiêu đó có khả thi không, phù hợp không, và quan trọng hơn có thực sự bền vững không.

TS Phó Đức Tùng, chuyên gia độc lập về quy hoạch đô thị. Ảnh: Nguyệt Hà.
Hiện nay, chúng ta gọi là "chiến lược kinh tế" trong bản quy hoạch, thực ra phần lớn là phát huy từ hiện trạng sẵn có. Trung tâm thương mại dịch vụ ở lõi thành phố, công nghiệp ở Bình Dương, cụm cảng ở Bà Rịa – Vũng Tàu. Điều này không sai, nhưng nếu chỉ chiếu từ hiện trạng sẵn có nhìn về tương lai rồi gọi là tầm nhìn 100 năm, thì thực ra chúng ta chưa làm quy hoạch mà chỉ đang mô tả những gì đã có.
Theo ông,điểm xuất phát đúng cho quy hoạch 100 năm phải từđâu ?
Không phải chúng ta muốn gì hay chúng ta đang có gì về mặt kinh tế, mà là vùng đất này có những tài nguyên nền tảng nào: địa hình, địa chất, mạng lưới nước và lưu vực sông, khoáng sản, vị trí địa chiến lược, hướng gió, hướng nắng, đặc điểm khí hậu và biến đổi khí hậu dài hạn. Đó là những thứ không thể tạo ra được bằng chính sách hay bằng tiền. Chúng là điều kiện tự nhiên mà thành phố được trao cho, và nhiệm vụ đầu tiên của bản quy hoạch 100 năm là phải bảo vệ và phát huy những điều kiện đó, thay vì tiêu hao chúng để đổi lấy những mục tiêu ngắn hạn.
Khi đặt câu hỏi đó nghiêm túc với TP.Hồ Chí Minh sau sáp nhập, đó là một vùng lãnh thổ rộng lớn kéo dài từ Tây Ninh đến Bà Rịa – Vũng Tàu, bức tranh sẽ hiện ra rất khác so với những gì chúng ta đang thấy trong bản quy hoạch hiện tại.
Ví dụ, vùng phía Đông Bà Rịa – Vũng Tàu với tất cả các lợi thế hạ tầng mới như sân bay Long Thành và các tuyến cao tốc, về vị trí địa lý và logistics, thực ra không thua kém Bình Dương, thậm chí có những điều kiện còn vượt trội hơn. Nhưng hiện nay vùng này đang được định vị chủ yếu là du lịch nghỉ dưỡng. Đó là một lựa chọn định vị xuất phát từ hiện trạng, không phải từ phân tích tài nguyên.
Hay như khu vực ven vịnh Gành Rái xung quanh cụm cảng Cái Mép - Thị Vải, đây là vùng đất có giá trị cao về nhiều chiều: sinh thái, cảnh quan, hàng hải... Tuy nhiên, cách tiếp cận hiện tại là chia lô nhỏ, san lấp từng mảnh theo từng đề xuất riêng lẻ. Đó là tư duy "xé nhỏ miếng bánh", trong khi đáng ra phải đặt câu hỏi làm thế nào để miếng bánh lớn hơn, thậm chí có thể nghĩ đến việc mở rộng vịnh sâu vào bên trong, kết nối một vùng hậu phương rộng lớn phía Đông để phục vụ cảng, thay vì chỉ nhìn vào vài mảnh đất sát bến tàu. Khi nguồn lực tự nhiên bị xẻ nhỏ và tiêu hao dần, những gì mất đi gần như không thể phục hồi trong tầm nhìn 100 năm.
Tôi cho rằng thứ tự đúng phải là: Xác lập nền tảng tự nhiên trước, từ đó thiết kế hạ tầng kỹ thuật khung phù hợp với nền tảng đó, rồi mới xác định cấu trúc không gian đô thị, và cuối cùng mới suy ra chiến lược kinh tế phù hợp. Khi đi theo trình tự đó, chiến lược kinh tế sẽ không còn là phát huy hiện trạng, mà là kết quả của việc khai thác đúng những gì vùng đất này thực sự có và đó mới là cơ sở cho phát triển bền vững thực chất.

TS Phó Đức Tùng góp ý tại Hội thảo "Quy hoạch tổng thể TP.Hồ Chí Minh tầm nhìn 100 năm” diễn ra tại TP Hồ Chí Minh mới đây. Ảnh: Nguyệt Hà.
Ông vừa đề cập đến quy mô lãnh thổ rộng lớn sau sáp nhập. Điều này thay đổi căn bản cách tiếp cận quy hoạch như thế nào?
Thay đổi rất lớn. Theo tôi đây là một trong những điểm mà bản quy hoạch hiện tại chưa khai thác hết ý nghĩa của nó. Trong nhiều thập kỷ qua, TP.Hồ Chí Minh được xác định là trung tâm của vùng Đông Nam Bộ theo mô hình hướng tâm: Thành phố ở giữa, các tỉnh vệ tinh bao quanh theo các vòng tròn ngày càng xa. Mô hình đó có logic trong bối cảnh thành phố vượt trội hẳn về quy mô và sức hút so với tất cả các tỉnh xung quanh, giống như một trường trọng lực tự nhiên hút mọi nguồn lực về phía mình.
Cấu trúc hướng tâm đòi hỏi những trục hướng tâm mạnh để lực từ trung tâm phát ra và từ xung quanh hút vào. Tuy nhiên, đây là điểm yếu căn bản của TP.Hồ Chí Minh từ trước đến nay: lõi trung tâm quá đặc, quá rắc rối, không thể tạo ra các trục hướng tâm hiệu quả. Đó là lý do tại sao dù được giao vai trò trung tâm vùng từ rất lâu, vị thế đó lại đang yếu dần thay vì mạnh lên, trong khi các tỉnh xung quanh mỗi nơi tự phát triển theo quán tính của họ, vì vậy TP.Hồ Chí Minh không phát huy được vai trò điều phối và dẫn dắt thực chất.
Hiện nay, với việc sáp nhập địa giới hành chính 3 tỉnh, cấu trúc vùng đã thay đổi căn bản. Không còn là một thành phố lớn bao quanh bởi nhiều tỉnh nhỏ mà là ba thực thể hành chính tương đương nhau về quy mô, chạy song song theo chiều ngang: TP.Hồ Chí Minh ở giữa, Tây Ninh ở một bên và Đồng Nai ở bên kia. Mỗi thực thể đủ lớn, đủ lực để có chiến lược phát triển riêng, không phải là những vệ tinh phụ thuộc mà là những đối tác ngang hàng trong một hệ sinh thái vùng.
Trong bối cảnh đó, nếu TP.Hồ Chí Minh muốn thực sự là trung tâm, cần tự xác định mình như "con bướm với hai cánh": Tây Ninh là một cánh, Đồng Nai là cánh kia. Cấu trúc hạ tầng tương ứng với mô hình đó không phải là các vành đai đồng tâm mà là một trục chính ở giữa với các trục xương cá sang hai bên, sau đó tỏa ra phía miền Tây và phía Bắc. Cách tổ chức không gian đó sẽ cho phép sức mạnh của trung tâm thực sự lan tỏa ra hai cánh và ngược lại. Đây là điều mà mô hình vòng tròn đồng tâm không bao giờ đạt được với lõi trung tâm như hiện nay.
Từ đó cũng dẫn đến nhiều hệ quả về phân bổ chức năng của Thành phố sau này. Khi chúng ta có cả một dải rộng phía Bắc — Bình Dương kết nối với Củ Chi và toàn bộ vùng giáp Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh thì cần gì phải đưa các khu công nghiệp công nghệ cao vào Thủ Đức? Thủ Đức hiện còn bao nhiêu đất, kết nối thế nào với các vùng còn lại, và liệu có thể thực sự trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo theo đúng nghĩa trong những điều kiện đó không? Những câu hỏi như vậy xuất phát từ địa lý và hạ tầng thực tế thay vì từ thương hiệu đang có mới là những câu hỏi đáng đặt ra trong một quy hoạch 100 năm.
Đây là cơ hội hiếm có, và nên được tận dụng đúng mức. Tuy nhiên, một bản quy hoạch tốt không phải là bản quy hoạch có nhiều dự án nhất, hay con số ấn tượng nhất. Một bản quy hoạch đúng đắn cần kiến tạo những giá trị cốt lõi để 50 hay 100 năm sau vẫn còn là điểm tựa thay vì trở thành điểm nghẽn.











