Quy mô tín dụng 'có vấn đề' của BaoViet Bank

BaoViet Bank đang cùng lúc phải giải nhiều bài toán, duy trì tăng trưởng, chất lượng nguồn vốn và kiểm soát rủi ro liên quan đến nợ xấu.

Kiểm soát rủi ro liên quan đến nguồn vốn và nợ xấu đang là bài toán lớn với BaoViet Bank. Ảnh minh họa: AI

Kiểm soát rủi ro liên quan đến nguồn vốn và nợ xấu đang là bài toán lớn với BaoViet Bank. Ảnh minh họa: AI

Dấu hỏi từ tỷ lệ nợ xấu

Báo cáo tài chính soát xét bán niên của Ngân hàng TMCP Bảo Việt (BaoViet Bank) cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng trước dự phòng đạt 64.483 tỷ đồng, tăng 10,3% so với đầu năm, kéo theo đó là thu nhập lãi thuần tăng 44,4%, lên 612 tỷ đồng.

Đây cũng là chỉ dấu quan trọng đã được ngân hàng nhấn mạnh mục tiêu từ đại hội đồng cổ đông thường niên diễn ra hồi đầu năm. Trong đó, ngoài định hướng nâng cao chất lượng tín dụng, thúc đẩy chuyển đổi số và khai thác sâu hệ sinh thái Bảo Việt.

Tuy nhiên, bên cạnh những con số tăng trưởng về dư nợ và thu nhập lãi thuần, diễn biến chất lượng tài sản lại cho thấy một gam màu kém tích cực.

Tính đến cuối tháng 6/2026, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của BaoViet Bank tuy có giảm nhẹ và tiếp tục dưới ngưỡng 3% được đại hội đồng cổ đông phê duyệt nhưng vấn đề của nằm ở con số giá trị tuyệt đối.

Trong đó, một phần lớn tỷ lệ nợ xấu sụt giảm nhờ vào tỷ trọng gia tăng của dư nợ cho vay khách hàng mới, trong khi tỷ lệ nợ xấu không giảm nhiều. Tính tới cuối tháng 6/2026, tổng nợ dưới tiêu chuẩn của ngân hàng vẫn vào khoảng 1.367 tỷ đồng. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn vẫn lên tới hơn 1.261 tỷ đồng, chiếm 92% tổng nợ xấu.

Nửa đầu năm nay, BaoViet Bank ghi nhận hơn 401,5 tỷ đồng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, tăng khoảng 56,2 tỷ đồng, tương đương 16,3% so với cùng kỳ. Trong đó, ngân hàng trích gần 232,9 tỷ đồng dự phòng cho vay khách hàng và hơn 172,4 tỷ đồng dự phòng đối với trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành. Đồng thời, khoảng 159,2 tỷ đồng dự phòng đã được sử dụng để xử lý rủi ro trong kỳ.

Tính tới cuối 2026, ngân hàng còn nắm giữ 3.296 tỷ đồng theo mệnh giá tại VAMC, trong đó đã trích lập 1.819 tỷ đồng và ghi nhận giá trị ròng 1.477 tỷ đồng.

Gánh nặng dự phòng lớn là nguyên nhân chính bào mòn phần lớn lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh. Dù lợi nhuận thuần trước dự phòng đạt hơn 435 tỷ đồng, ngân hàng chỉ còn lại 33,5 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau khi ghi nhận chi phí dự phòng.

Cũng cần lưu ý thêm, ngoài bảng cân đối, ngân hàng còn theo dõi 4.107 tỷ đồng nợ xấu đã xử lý rủi ro, tăng 155 tỷ đồng so với đầu năm. Dù đây không còn là tài sản được ghi nhận, nhưng vẫn là chỉ báo quan trọng về quy mô tín dụng "có vấn đề" của BaoViet Bank tích tụ qua nhiều năm và năng lực thu hồi sau xử lý.

Nguồn: BCTC soát xét bán niên BaoViet Bank

Nguồn: BCTC soát xét bán niên BaoViet Bank

Rủi ro từ chính "bệ đỡ nguồn vốn" hệ sinh thái Bảo Việt

Tăng trưởng tài sản của BaoViet Bank trong nửa đầu năm 2026 chủ yếu được thúc đẩy bởi hoạt động cho vay. Dư nợ cho vay khách hàng tăng 10,3% trong khi tổng tài sản lại giảm nhẹ từ 110.366 tỷ đồng xuống còn 109.527 tỷ đồng.

Ở phía nguồn vốn, tiền gửi khách hàng đạt 76.895 tỷ đồng, tăng hơn 3.252 tỷ đồng, tương đương 4,4% so với đầu năm. Như vậy, tốc độ tăng tiền gửi thấp hơn đáng kể so với mức tăng 10,3% của dư nợ cho vay, khiến tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi khách hàng tăng từ khoảng 79,4% lên 83,9%.

Đáng chú ý hơn là sự thay đổi trong cơ cấu tiền gửi. Tiền gửi không kỳ hạn giảm 35,5%, từ 3.953 tỷ đồng xuống còn 2.549 tỷ đồng, trong khi tiền gửi có kỳ hạn tăng 6,7%, lên 74.290 tỷ đồng. Theo đó, tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) trong tổng tiền gửi khách hàng giảm từ khoảng 5,4% xuống còn 3,3%, thấp hơn nhiều so với bình quân của các ngân hàng hiện nay ở mức 14,7%.

Mức CASA thấp kéo theo chi phí vốn cao hơn do ngân hàng phải phụ thuộc phần lớn vào tiền gửi có kỳ hạn, loại nguồn vốn thường đi kèm mức lãi suất huy động cao hơn. Điều này làm hạn chế khả năng cải thiện biên lãi thuần, đồng thời thu hẹp dư địa cạnh tranh lãi suất cho vay trong bối cảnh BaoViet Bank đang muốn đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng.

Áp lực này đã phần nào thể hiện trong kết quả bán niên. Chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự tăng gần 48%, từ 1.795 tỷ đồng lên 2.653 tỷ đồng. Dù thu nhập lãi tăng đủ mạnh để đưa thu nhập lãi thuần lên 612 tỷ đồng, mức tăng nhanh của chi phí vốn cho thấy hiệu quả từ mở rộng tín dụng vẫn phụ thuộc đáng kể vào khả năng duy trì chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra.

Phần lớn trong danh mục cho vay khách hàng của BaoViet Bank nằm ở xây dựng và kinh doanh bất động sản. Ảnh minh họa: AI

Phần lớn trong danh mục cho vay khách hàng của BaoViet Bank nằm ở xây dựng và kinh doanh bất động sản. Ảnh minh họa: AI

Việc tiền gửi khách hàng tăng chậm hơn dư nợ cho vay cũng đặt ra yêu cầu cân đối nguồn vốn trong nửa cuối năm. Nếu tiếp tục mở rộng tín dụng với tốc độ cao trong khi nguồn tiền gửi giá rẻ chưa được cải thiện, BaoViet Bank có thể phải tăng lãi suất huy động, phát hành thêm giấy tờ có giá hoặc phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn vốn khác để bảo đảm thanh khoản.

Ở góc độ quản trị, đây là bài toán khó hơn việc đơn thuần mở rộng quy mô cho vay. Ngân hàng phải đồng thời nâng tỷ trọng CASA, kiểm soát giá vốn huy động và lựa chọn các khoản tín dụng có mức sinh lời đủ bù đắp rủi ro. Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi chi phí dự phòng đang hấp thụ hơn 92% lợi nhuận thuần trước dự phòng.

Thực tế, một phần đáng kể nguồn vốn của BaoViet Bank được hỗ trợ bởi hệ sinh thái Tập đoàn Bảo Việt. Theo thuyết minh báo cáo tài chính, tổng số dư phải trả liên quan đến Tập đoàn Bảo Việt và các đơn vị thành viên tại cuối tháng 6/2026 lên tới hơn 35.437 tỷ đồng, chủ yếu phát sinh từ các giao dịch tiền gửi và các nghĩa vụ liên quan. Quy mô này tương đương khoảng 46% tổng tiền gửi khách hàng của ngân hàng.

Trong sáu tháng đầu năm, BaoViet Bank đã chi hơn 491,5 tỷ đồng tiền lãi cho Tập đoàn Bảo Việt và các đơn vị thành viên, tương đương khoảng 18,5% tổng chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự của ngân hàng. Những con số này cho thấy hệ sinh thái Bảo Việt không chỉ đóng vai trò hỗ trợ hoạt động kinh doanh mà còn là một trong những nguồn cung cấp vốn quan trọng cho ngân hàng.

Ở mặt tích cực, mối liên kết với cổ đông sáng lập và các doanh nghiệp bảo hiểm, chứng khoán, quản lý quỹ trong cùng hệ sinh thái giúp BaoViet Bank duy trì một nguồn tiền gửi quy mô lớn, tạo lợi thế mà không phải ngân hàng quy mô nhỏ nào cũng có được. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng phát triển khách hàng, mở rộng tín dụng và khai thác các hoạt động bán chéo sản phẩm.

Tuy nhiên, mức độ tập trung lớn cũng đặt ra bài toán về tính đa dạng và độ bền vững của nguồn vốn. Khi một phần đáng kể nguồn lực đến từ nhóm bên liên quan, những thay đổi trong nhu cầu sử dụng vốn, chiến lược đầu tư hoặc dòng tiền của các đơn vị thuộc Tập đoàn Bảo Việt có thể tạo ảnh hưởng đáng kể tới cơ cấu huy động và khả năng cân đối thanh khoản của ngân hàng.

Ở một góc độ khác, rủi ro còn đến từ mức độ tập trung của danh mục tín dụng. Mặc dù báo cáo tài chính bán niên 2026 của BaoViet Bank không thuyết minh cơ cấu cho vay theo ngành, báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy dư nợ của tập trung lớn vào hai lĩnh vực xây dựng và kinh doanh bất động sản.

Cụ thể, tại cuối năm 2025, dư nợ cho vay lĩnh vực xây dựng đạt gần 15.796 tỷ đồng, chiếm 27% tổng dư nợ; cho vay hoạt động kinh doanh bất động sản đạt hơn 21.919 tỷ đồng, chiếm 37,5%. Riêng hai lĩnh vực này chiếm khoảng 37.715 tỷ đồng, tương đương 64,5% danh mục cho vay khách hàng của ngân hàng.

Đây là các lĩnh vực có độ nhạy cao trước biến động của thị trường, lãi suất và chính sách pháp lý. Dòng tiền trả nợ thường phụ thuộc vào tiến độ triển khai dự án, khả năng bán hàng, thanh khoản thị trường cũng như quá trình hoàn thiện thủ tục pháp lý. Khi thị trường chậm lại hoặc dự án kéo dài, khả năng tạo dòng tiền của khách hàng có thể suy giảm, qua đó làm tăng nguy cơ chuyển nhóm nợ và áp lực trích lập dự phòng đối với ngân hàng.

Việt Dương

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/quy-mo-tin-dung-co-van-de-cua-baoviet-bank-d47571.html