Quyền hành nghề của luật sư không đồng nghĩa với miễn trừ trách nhiệm pháp lý

Ngày 29/4, trả lời phóng viên TTXVN, thông tin từ Bộ Tư pháp đã lý giải về quy định thẩm quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.

Luật sư bào chữa. Ảnh minh họa: Doãn Tấn/TTXVN

Luật sư bào chữa. Ảnh minh họa: Doãn Tấn/TTXVN

Cụ thể như sau:

Ngày 10/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Tại khoản 1 Điều 84 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý”.

Đồng thời, khoản 1 Điều 90 Nghị định phân định thẩm quyền xử phạt của Ủy ban nhân dân cấp xã như sau: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này trong phạm vi quản lý của địa phương theo thẩm quyền quy định tại Điều 84 Nghị định này”.

Sau khi Nghị định số 109/2026/NĐ-CP được ban hành, một số cá nhân thể hiện trên mạng xã hội Facebook đã có ý kiến cho rằng quy định này “gây lo ngại nghiêm trọng đối với tính độc lập của nghề luật sư và quyền được bảo vệ pháp lý của người dân”. Tuy nhiên, có thể phân tích Nghị định này dưới các góc độ sau:

1. Quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là quy định mới

Khoản 3 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương. Khoản 4 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: “Nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm”.

Quy định này mang tính nguyên tắc, xác lập thẩm quyền chung, xuyên suốt và thống nhất của hệ thống chính quyền địa phương trong công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.Trên cơ sở đó, tại thời điểm thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, khoản 1 Điều 5 Nghị định 189/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đã cụ thể hóa và phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Khoản 7 Điều 23 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ về đối ngoại, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn theo quy định của pháp luật; bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, bảo đảm quyền con người; phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác tại địa phương theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, khoản 1 Điều 13 của Luật này quy định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được giao theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định không được phân cấp.

Như vậy, việc quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, trong đó có thẩm quyền tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề là bảo đảm căn cứ pháp lý theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Nghị định số 189/2025/NĐ-CP.

Đây không phải là quy định mới, mà là sự kế thừa, cụ thể hóa các quy định có tính nguyên tắc của pháp luật hiện hành.

Đây không phải là quy định đặc thù riêng của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP, mà là một chế định chung của pháp luật xử lý vi phạm hành chính, đã được thiết lập ổn định và áp dụng thống nhất trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, không riêng lĩnh vực bổ trợ tư pháp, ví dụ: Nghị định số 341/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan; Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng; Nghị định số 17/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 162/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng; Nghị định số 87/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo; Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

2. Quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã bảo đảm tính hợp lý trong tổ chức thực thi pháp luật tại địa phương

Các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư bị áp dụng hình thức xử phạt “tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn” không phải là hành vi vi phạm mới, mà được kế thừa từ quy định của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 117/2024/NĐ-CP) trước đây. Nghị định số 109/2026/NĐ-CP chỉ bổ sung thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời điểm thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trong đó có cấp xã theo ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị.

Việc giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp xã là thực hiện theo đúng chủ trương của Đảng, phù với yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương, sát thực tiễn sát thực tiễn, phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tại khoản 4 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: “Nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm”. Trong thực tế, nhiều hành vi vi phạm trong hoạt động luật sư phát sinh tại địa bàn cơ sở; cơ quan xã, phường, đặc khu là chủ thể nắm rõ tình hình, có điều kiện phát hiện hành vi vi phạm, ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi vi phạm, ví dụ:

(i) Hành vi sách nhiễu khách hàng; nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý; lừa dối khách hàng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; (ii) Lợi dụng danh nghĩa trung tâm tư vấn pháp luật, chi nhánh của trung tâm tư vấn pháp luật, tư vấn viên pháp luật, luật sư, cộng tác viên pháp luật để thực hiện tư vấn pháp luật nhằm trục lợi; (iii) Xúi giục cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; (iv) Xúi giục cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật;

Đối với những hành vi này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phát hiện hành vi vi phạm, có thẩm quyền xử phạt sẽ rút ngắn quy trình xử lý vi phạm; giảm tải khối lượng công việc cho cơ quan cấp trên. Nếu không giao thẩm quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ dẫn đến tình trạng cơ quan cấp xã phát hiện vi phạm nhưng không có thẩm quyền xử lý, làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước.

3. Cần hiểu rõ bản chất của biện pháp “tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn”

Một số ý kiến chưa hiểu rõ về đặc điểm quan trọng về tính có thời hạn của hình thức xử phạt “tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn”, khác với biện pháp “thu hồi giấy phép, chứng chỉ hành nghề” khi áp dụng có thể chấm dứt giá trị pháp lý của chứng chỉ đã cấp, chỉ người có thẩm quyền mới có thẩm quyền thu hồi và là biện pháp có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau mà không nhất thiết phải có căn cứ là hành vi vi phạm hành chính.

Cụ thể, biện pháp “tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề có thời hạn” là một hình thức xử phạt vi phạm hành chính, được áp dụng khi có vi phạm hành chính và đối với hành vi vi phạm cụ thể, trong thời hạn nhất định, theo quy định của pháp luật. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn mang tính chế tài tạm thời, nhằm răn đe, phòng ngừa hành vi vi phạm. Thời hạn tước theo tính chất mức độ của hành vi vi phạm, có thể từ 01 đến 03 tháng, 03 đến 06 tháng. Theo quy định của khoản 6 Điều 9 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP) thì “Thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính mà không phụ thuộc vào thẩm quyền cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó”.

Về thủ tục áp dụng: Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về căn cứ xác định hành vi, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt được quy định rất cụ thể, rõ ràng trong Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định quy định chi tiết. Trong quá trình xử lý vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức bị xử phạt có đầy đủ quyền giải trình với người có thẩm quyền; quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Trong các trường hợp khiếu nại, khởi kiện, quyết định xử phạt vi phạm hành chính sẽ được xem xét một cách độc lập, khách quan bởi cơ quan có thẩm quyền, cơ quan xét xử.

4. Không đồng nhất thẩm quyền xử phạt với thẩm quyền quản lý nhà nước, kiểm tra chuyên ngành

Một số ý kiến đang hiểu chưa chính xác về thẩm quyền xử phạt và thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành. Cần lưu ý, quy định về thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tại Nghị định số 109/2026/NĐ-CP không đồng nhất với thẩm quyền quản lý nhà nước hoặc thẩm quyền kiểm tra đối với hoạt động hành nghề luật sư.

Trước hết, về bản chất pháp lý, xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật mang tính hậu kiểm, chỉ phát sinh khi đã có hành vi vi phạm cụ thể, được phát hiện theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, quản lý nhà nước và kiểm tra chuyên ngành là hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, có tính hệ thống và được thực hiện theo quy định của Luật Luật sư và các quy định pháp luật có liên quan khác. Do đó, việc giao thẩm quyền xử phạt cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không đồng nghĩa với việc trao thẩm quyền tổ chức kiểm tra hoạt động hành nghề luật sư. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không thực hiện hoạt động kiểm tra định kỳ, kiểm tra chuyên sâu về nghiệp vụ hành nghề luật sư (nếu không được phân cấp), cũng không thay thế chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan chuyên ngành.

Trên thực tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ thực hiện việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính thông qua các kênh như kiến nghị, tố cáo của tổ chức, cá nhân; kết quả phối hợp với cơ quan chuyên môn, cơ quan thanh tra, kiểm tra; hoạt động quản lý địa bàn gắn với chức năng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; hoặc khi vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện, không có thẩm quyền xử phạt và chuyển theo quy định.

Đối với các hành vi vi phạm mang tính chuyên sâu về nghiệp vụ hành nghề luật sư, đòi hỏi đánh giá chuyên môn, kỹ thuật pháp lý phức tạp, thì việc phát hiện, kiểm tra, kết luận vi phạm thuộc về cơ quan quản lý chuyên ngành.

Việc hiểu rằng trao thẩm quyền xử phạt đồng nghĩa với việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp đi kiểm tra, quản lý hoạt động luật sư là chưa chính xác về mặt pháp lý và không phù hợp với thiết kế của hệ thống pháp luật hiện hành.

5. Không có căn cứ khi nói là không bảo đảm tính độc lập của nghề luật sư

Tính độc lập của luật sư được bảo đảm bởi Luật Luật sư, các quy định của pháp luật tố tụng, nguyên tắc tranh tụng, bào chữa, thể hiện ở quyền hành nghề không bị can thiệp trái pháp luật, quyền bảo vệ khách hàng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, tính độc lập không đồng nghĩa với việc miễn trừ khỏi trách nhiệm pháp lý. Luật sư, cũng như mọi cá nhân, tổ chức khác, đều phải tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm khi có hành vi vi phạm pháp luật. Việc xử phạt vi phạm hành chính chỉ áp dụng đối với các hành vi vi phạm cụ thể, được pháp luật quy định rõ ràng, không can thiệp vào hoạt động hành nghề hợp pháp của luật sư.

6. Dự thảo Nghị định đã lấy ý kiến rộng rãi

Nghị định số 109/2026/NĐ-CP được xây dựng và ban hành theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tại Nghị định số 109/2026/NĐ-CP được quy định ngay từ đầu dự thảo Nghị định. Bộ Tư pháp đã:

(i) Gửi hồ sơ dự thảo Nghị định lấy ý kiến góp ý của tất cả các bộ, ngành, địa phương, các cá nhân, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo Nghị định; (ii) Đăng tải công khai hồ sơ dự thảo Nghị định trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp; đăng tải Bảng tổng hợp tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý; (iii) Tổ chức 02 Hội thảo lấy ý kiến góp ý đối với hồ sơ dự thảo Nghị định với sự tham gia của cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo Nghị định, trong đó, có nhiều tổ chức, cá nhân là Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Hiệp Hội công chứng viên Việt Nam, các văn phòng luật sư, công chứng.

Qua các văn bản góp ý chính thức và các ý kiến tại hội thảo, không có ý kiến “phản đối” đối với quy định nêu trên tại Nghị định số 109/2026/NĐ-CP.

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/thoi-su/quyen-hanh-nghe-cua-luat-su-khong-dong-nghia-voi-mien-tru-trach-nhiem-phap-ly-20260429212014054.htm