… rồi lại Xuân

Khác với mùa hè, mùa thu châu Âu thường đến lặng lẽ. Chỉ khi nhìn thấy bóng mình trải dài trên mặt đất, người ta mới sực nhớ, bóng đã xế, mùa thu đã về, mùa đông sắp tới. Vào thu, ánh mặt trời chiếu nghiêng nghiêng, bầu trời thường xanh thẫm, sắc nắng vàng đậm và trong như mật.

Mặc dù đất hẳn còn ấm nhưng dường như tuân theo một tiếng gọi thì thầm bí ẩn của trời đất, lá cây bắt đầu đổi màu. Chúng diêm dúa mang sắc đỏ vàng rực rỡ, hầu như muốn bày tỏ cái già dặn của mình với sắc trời và màu nắng. Mùa này mà đi dạo rừng mới thấy thiên nhiên xa xỉ với sắc màu và mới cảm nhận tính tuần hoàn của tự nhiên, một điều vốn đã bị quên trong mùa hè đầy nắng thì nay cùng với gió thu đã trở về trọn vẹn.

Rừng thu không những chỉ hiến dâng cho con người sắc màu và cảm hứng tâm linh, nó còn ban phát loại nho làm rượu mà đây là mùa thu hoạch. Thời này là mùa nho chín, là mùa thử rượu vang mà người sành điệu có thể nếm đất trời, màu sắc, hơi thở của rừng núi qua những giọt nồng mà người Âu tôn cho cái khả năng “nối phần hồn và phần xác lại với nhau”. Thì ra cũng vô vàn khác nhau như vị trà phương Đông, rượu không hề giống rượu, chúng mang chứa trong mình mùi đất đai, mùi hoa lá của mỗi vùng canh tác, chúng còn “nhớ” cả năm nay mưa nắng gió bão ra sao, chúng là quà tặng rộng lượng của thiên nhiên mỗi năm mỗi khác cho con người. Thế nên không ai uống rượu một cách suồng sã mà người ta lắng nghe mùi đất và màu nắng. Cũng như uống trà, người ta uống rượu bằng tâm.

Thế nhưng thiên nhiên không phải luôn luôn rộng lượng, thiên nhiên cũng có khi khe khắt. Ánh nắng chiếu nghiêng chỉ làm trời chóng lạnh. Bầu trời càng xanh thì khí trời càng lạnh. Trên bầu trời xanh thẫm đó, những đàn chim trốn lạnh vỗ cánh bay về phương Nam, chúng phải vượt qua Địa Trung Hải để đến Bắc Phi và sẽ ở đó suốt mấy tháng mùa đông. Chim chóc mà cũng bay về phương Nam, con người cần hơi ấm quê hương chỉ biết nhìn chim bay ngó trời xa:

Quê nhà xa lắc, xa lơ đó

Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay1.

Người Âu cũng ngán lạnh, họ rút vào nhà đốt lò. Trên mái ngói bây giờ đã lấm tấm băng giá màu nhũ bạc, khói đốt lò sưởi bay vẩn vơ trong gió. Đây là lúc con người ẩn nhẫn tìm nguồn vui trong bóng tối mùa đông.

Tháng Mười Một là tháng bắt đầu của lễ hội Carnival, trong đó người ta hóa trang thành những khuôn mặt khác. Những ngày cuối năm đầy hơi lạnh và bóng tối này là thời kỳ để ma quái trà trộn vào xã hội của con người chí thiện, dụ dỗ người theo chúng thỏa mãn niềm vui dục lạc. Thời kỳ đen tối đó kéo dài suốt một mùa đông, đó là thời mạt pháp đảo điên, trong đó ma quái hiện hình thánh thiện, con người hóa trang thành ác quỷ. Thời kỳ thiện ác lẫn lộn đó bắt đầu với lễ hội Cologne (Đức) trong tháng Mười Một, hào hứng tại Venise (Ý) trong tháng Giêng năm sau. Cao điểm của ngày hội Carnival sẽ là một ngày thứ Ba đặc biệt của tháng Hai. Ngày đó, với mọi dạng hình hóa trang kỳ dị nhất, con người kéo nhau từng đoàn diễu hành khắp phố. Niềm say mê dục lạc trộn lẫn với lòng khao khát được thể hiện trong các dạng hình cực đoan nhất dường như tụ vào một ngày thứ Ba đó, một ngày được gọi là “Shrove Tuesday”. Ngày hôm sau, cả thế gian dường như im bặt.

Như tỉnh ngộ sau một cơn mê dài của dục lạc và buông thả, con người trầm tư và nhìn lại mình. Một nỗi niềm ăn năn chợt đến vì ngày này, ngày thứ Tư sau ngày thứ Ba thác loạn nọ, là ngày mà Đức Jesus đã một mình đi vào sa mạc, nhịn ăn và cầu nguyện. Ngài bắt đầu một thời kỳ gian khổ, kiên cường chống lại sự cám dỗ của Satan để 40 ngày sau, Ngài trở lại với Lễ Phục sinh trong tháng Tư.

Ngày thứ Tư này được mệnh danh là ngày “Thứ Tư Lễ Tro”(Ash Wednesday). Không có biểu tượng nào tượng trưng lòng kham nhẫn và tính vô thường bằng tro. Tro tàn là phần sót lại của mọi cuộc vui trác táng của ngày hôm trước, sau tiếng cười ngạo nghễ của ma quái. Con người tự thấy mình nên mang một chiếc áo vải thô để sám hối, cầu nguyện và nhịn ăn như Ngài. Tín đồ xin xức tro vào trán để tưởng nhớ đến Đức Jesus và nhận phước lành.

Thế nhưng, thời kỳ u ám của mùa đông với đầy tội lỗi thật ra là tâm lý cận nhân tình nhất vì ai cũng biết trong vùng lầy đen tối nhất của tội lỗi vẫn ngầm chứa mầm thánh thiện và con người chỉ là sự tổng hòa của mọi khuynh hướng thiện ác tiềm ẩn. Một thiên tài như Goethe (1749-1832), nhà thơ và là nhà khoa học của Đức đã từng nói: “Tất cả những người tôi gặp đều là những kẻ mà tội lỗi của họ bản thân tôi đều có thể phạm”. Khoáng đạt thay và cũng nhân hậu thay, hỡi nhà thơ lớn! Điều này làm cho ta nhớ đến Nguyễn Du (1766-1820), người sinh sau và lại chết trước Goethe. Trong thời phong kiến khe khắt của phương Đông, Nguyễn Du là người hiếm hoi biết cảm thương số phận của Thúy Kiều, Đạm Tiên, những người đẹp truân chuyên “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”2, những kẻ bị số phận vùi dập, nhưng có lẽ ngày nay vẫn còn nhiều nhà đạo đức không ngại gọi là “ma quái”.

Thiên nhiên tuy khe khắt nhưng nhân hậu hơn người. Thế nên trong những cành cây đen đủi của tháng Chạp đều chứa mầm xanh cho mùa xuân tới. Những chồi xanh đó kham nhẫn biết bao, chúng biết chờ đợi, biết rõ khí hậu chưa ấm, thời khắc của chúng chưa đến. Trong những ngày tuyết bay lất phất này, người ta thèm hơi nóng thuần hậu của một lò sưởi củi thông. Bên “bếp lửa reo vui” đó với ly rượu vang trong tay, người ta sẽ thấy mình được sống trong vòng tay kỳ diệu và hào phóng của thiên nhiên. Với củi lửa thiên nhiên cho ta hơi ấm, với rượu trà nó cho ta hương vị của đất trời và đang thì thầm nói với loài người rằng: cuộc đời đang vận động theo chu kỳ, hết đông tới xuân, hết ác tới thiện.

Tâm tư chộn rộn với rượu với trà nhưng con người cũng biết lắng nghe. Do đó tại châu Âu, những ngày năm cùng tháng tận cũng là dịp để người ta lắng lòng nghe những tiếng thì thầm đó, là những ngày mà các trăn trở tâm linh của con người như thời gian, không gian, sự hiện hữu, tính vô thường, nhịp tuần hoàn... thường trở lại. Chúng làm con người thường ngỡ ngàng giật mình thấy những hoạt động đầy bụi bặm của thế gian cách trước đó mới hơn một tuần nay trở thành tầm thường xa lạ. Bóng tối của những ngày mùa đông trong dịp Giáng sinh đâu phải chỉ đồng lõa với ma quái, đối với nhiều người, đó là những ngày hết sức tĩnh lặng để đi vào một mùa xuân mới, già dặn và minh triết hơn.

Goethe cũng như Nguyễn Du có chỗ giống nhau, cả hai lấy hệ lụy của cuộc đời, lấy bóng tối của “tội lỗi” để làm điều kiện, làm tiền đề cho sự thăng hoa của tâm hồn. Đó cũng là sự chọn lựa của chàng Tất Đạt trong Câu chuyện dòng sông của Hermann Hesse, trong đó Tất Đạt dù đã gặp Buddha, vẫn từ giã Ngài ra đi, sa vào mọi hệ lụy của xã hội, rượu chè, đánh bạc, nhục dục… để một ngày biết lắng nghe tiếng gọi của dòng sông pháp giới. Tất Đạt lúc đó cũng như tâm của Nguyễn Du. “Trạm trạm nhất phiến tâm/ Minh nguyệt cổ tỉnh thủy” (Tấm lòng trong vằng vặc/ Như ánh trăng sáng chiếu giếng nước năm xưa)3. Tất Đạt nhắn lại cho người đời, kinh nghiệm quý nhất của chàng trong cuộc đời ngập ngụa tội lỗi là “biết nhịn đói và biết chờ đợi”.

“Thứ Tư Lễ Tro” cũng là ngày biểu tượng của kham nhẫn và nhịn ăn, nhưng cũng chính là ngày của sự chuyển hóa tâm. Đó là ngày mà người ta sẽ đốt bỏ một hình nộm đại diện cho mùa đông và bóng tối, ngày lòng thiện trong mỗi chúng ta mà có người gọi tên bằng “Chúa” ở phương Tây hay “Phật” ở phương Đông đã chinh phục được cái xấu, ngày mà bên ta xem là thiêng liêng của Nguyên đán.

Ít người biết “Thứ Tư Lễ Tro” cũng là một ngày trong khoảng Tết Nguyên đán của chúng ta. Ngày thứ Tư sám hối đó của năm 2026 nhằm ngày 18-2, đúng ngày mùng 2 Tết Bính Ngọ. Ngày thứ Tư kỳ diệu đó cũng có khi nhằm đúng ngày Tết của ta, đó là ngày 9-2-2005, vào ngày Nguyên đán của năm Ất Dậu.

Nguyên đán là ngày đầy hy vọng của con người, dù đó là hy vọng đầy tính thế gian như “đạp thằng bần ra khỏi cửa” hay niềm cảm khái tâm linh đang đứng trước thời khắc tinh khôi của đất trời đang đổi mới. Ở phương Đông cũng như phương Tây, đó là ngày giã từ cái rủi ro, cái xấu ác, chúng đã trở thành “tro tàn” của năm cũ. Đó là ngày thành tâm nhất của mọi loài, kể cả ma quái. Vì Đông cũng như Tây, người cũng như quỷ, tất cả chúng ta đều là những kẻ lên đường chân thành đi tìm hạnh phúc.

Thiên nhiên chẳng có gì để tìm vì nó minh triết, biết không có gì để tìm, do đó hào phóng và biết chờ đợi. Sau Nguyên đán chỉ vài tuần, lúc khí trời còn lạnh, đất còn đóng băng thì không biết tiếng nói thì thầm nào mách bảo mà cây cối đã nứt mầm xanh, đâm ra vô số đọt non nhọn như cây kim, xanh mướt như niềm tin. Qua tháng Ba, lúc ngày đêm dài bằng nhau, mặt trời chưa hề sưởi ấm được bao nhiêu mà “xuân đến khắp trời hoa rượu nở”4, sắc màu đến đây thì không còn biết dè sẻn nữa. Trong mùa này, cành mai trầm mặc bên ta hay hoa lê trắng rực chiếm toàn cây bên trời Âu đều là sự thể hiện của cái thiện mỹ thâm hậu trong trời đất, cái luôn luôn sẵn sàng cống hiến cho người.

-------------------------------

1 Trích Hành phương Nam, thơ Nguyễn Bính.

2 Trích Truyện Kiều, Về cái chết của Đạm Tiên: “Kiếp hồng nhan có mong manh/ Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương“.

3 Đạo ý, thơ chữ Hán của Nguyễn Du, trích thivien.net.

4 Trích Hành phương Nam, thơ Nguyễn Bính.

Nguyễn Tường Bách (CHLB Đức)/Báo Giác Ngộ

Nguồn Giác ngộ: https://giacngo.vn/roi-lai-xuan-post78726.html