Sandbox tài sản mã hóa mở cơ hội cho du lịch số Đà Nẵng

"Nếu chờ quy định hoàn thiện rồi mới triển khai, doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội. Ngược lại, nếu thiếu kiểm soát sẽ phát sinh rủi ro lớn cho thị trường. Hai việc này phải đi song song", ông Bửu nhấn mạnh.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Quang Bửu phát biểu tại Hội thảo. Ảnh XM.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Quang Bửu phát biểu tại Hội thảo. Ảnh XM.

Cơ hội thúc đẩy du lịch số từ cơ chế thử nghiệm

Phát biểu tại hội thảo “Sandbox tài sản mã hóa: Động lực tăng trưởng mới cho du lịch số Đà Nẵng” chiều 16/10, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Quang Bửu nói Đà Nẵng xác định công nghệ là động lực tăng trưởng cốt lõi, nhưng nhiều mô hình tài chính số và tài sản số chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh.

“Nếu chờ quy định hoàn thiện rồi mới triển khai, doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội. Ngược lại, nếu thiếu kiểm soát sẽ phát sinh rủi ro lớn cho thị trường. Hai việc này phải đi song song”, ông Bửu nêu rõ.

Cơ chế đặc thù theo Nghị quyết của Quốc hội, được cụ thể hóa qua Nghị quyết số 20/2026/NQ-HĐND của HĐND thành phố, giúp chuyển từ “không được làm khi chưa có quy định” sang cho phép thử nghiệm trong môi trường có kiểm soát, thời gian xác định và giám sát chặt chẽ. Sandbox không phải vùng miễn trừ pháp luật, mà là công cụ đánh giá rủi ro, hoàn thiện quy trình và chuẩn bị nhân rộng khi đã chứng minh hiệu quả.

Trong 9 tháng năm 2026, cơ sở lưu trú Đà Nẵng phục vụ khoảng 15,86 triệu lượt khách (tăng 26,4%), trong đó khách quốc tế 7,73 triệu lượt (tăng 28,7%); doanh thu lưu trú và ăn uống gần 53.000 tỷ đồng. Hàng triệu giao dịch thanh toán tại khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan đang tạo nhu cầu thực tế: du khách quốc tế cần cách chuyển đổi tài sản số hợp pháp sang đồng Việt Nam nhanh chóng, minh bạch, giảm rủi ro tỷ giá và thủ tục phức tạp. Nếu giải quyết được bất tiện này, chi tiêu của khách tăng, doanh nghiệp du lịch – nhất là DNNVV – có thêm cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế.

Ông Lê Sơn Phong, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Ảnh XM.

Ông Lê Sơn Phong, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Ảnh XM.

Ông Lê Sơn Phong, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, cho biết Sở KH&CN TP đã tham mưu ban hành Nghị quyết 20/2026/NQ-HĐND và vận hành quy trình khép kín: tiếp nhận – thẩm định – giám sát – đánh giá – tổng hợp dữ liệu. Thành phố đồng thời hỗ trợ khởi nghiệp, miễn giảm chi phí hạ tầng, đào tạo – thử nghiệm và thu hút chuyên gia, tạo điều kiện để doanh nghiệp chọn Đà Nẵng làm nơi phát triển sản phẩm mới.

Mô hình nào cho du lịch số Đà Nẵng?

Tham luận tại hội thảo, PGS.TS Trần Mạnh Huy, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam, cho rằng tài sản mã hóa được ghi nhận là tài sản, nhưng không phải phương tiện thanh toán. Được chấp thuận thử nghiệm không có nghĩa là được làm mọi thứ – doanh nghiệp chỉ hoạt động trong đúng phạm vi phê duyệt.

Ông Huy dẫn kinh nghiệm Thái Lan (TouristDigiPay: chuyển đổi tài sản số sang đồng baht rồi chi tiêu qua hệ thống thanh toán điện tử, không dùng trực tiếp tài sản mã hóa) và thành phố Lugano (Thụy Sĩ). Bài học chung: công nghệ chỉ có giá trị khi giải quyết nhu cầu thật và nằm trong cơ chế quản lý phù hợp. Với pháp luật Việt Nam hiện nay, hướng đi gần với Thái Lan – chuyển đổi tài sản mã hóa sang tiền đồng rồi mới thanh toán – phù hợp hơn giai đoạn này.

 Các diễn giả tham dự phiên bàn tròn chia sẻ những cơ hội thúc đẩy phát triển du lịch số Đà Nẵng. Ảnh XM.

Các diễn giả tham dự phiên bàn tròn chia sẻ những cơ hội thúc đẩy phát triển du lịch số Đà Nẵng. Ảnh XM.

Tại Đà Nẵng, việc kiểm soát dựa trên ba nguyên tắc: giới hạn phạm vi tại địa điểm được cấp phép, gắn với dịch vụ du lịch – lưu trú – thương mại trọng điểm; tuân thủ eKYC, quy tắc Travel Rule về phòng chống rửa tiền và hạn mức giao dịch; gắn với nhu cầu thực tế của du khách. Basal Pay – mô hình đầu tiên được cấp phép – sau hơn một năm đã mở rộng từ 3 lên 10 khu vực du lịch trọng điểm; 100% giao dịch tuân thủ AML/CFT theo khuyến nghị FATF. Tiếp theo là MIMO, Umi Pay, PayD; hướng mở rộng tới stablecoin, tài chính du lịch và quyết toán xuyên biên giới.

Giá trị cốt lõi của sandbox không nằm ở số lượng mô hình cấp phép, mà ở chất lượng dữ liệu sau thử nghiệm: mức độ sử dụng, rủi ro, an toàn hệ thống, năng lực tuân thủ và phù hợp thị trường. Ba yêu cầu then chốt được đặt ra: đo hiệu quả bằng sự thuận tiện của du khách và chi phí chuyển đổi, không chỉ bằng số tài khoản hay giao dịch; đổi mới đi cùng tuân thủ và bảo vệ người dùng từ khâu thiết kế hệ thống; kết quả thử nghiệm phải quay lại hoàn thiện chính sách, có đánh giá độc lập và kiến nghị Trung ương khi vượt thẩm quyền địa phương.

“Chúng ta không thử nghiệm để được gọi là người đi đầu. Chúng ta thử nghiệm để chứng minh rằng có một cách làm mới giải quyết vấn đề tốt hơn cách cũ, với chi phí hợp lý hơn và mức độ an toàn được kiểm chứng bằng số liệu”, ông Trần Mạnh Huy nói.

Loạt biên bản ghi nhớ được ký kết tại hội thảo nhằm thúc đẩy phát triển du lịch số Đà Nẵng. Ảnh X.

Loạt biên bản ghi nhớ được ký kết tại hội thảo nhằm thúc đẩy phát triển du lịch số Đà Nẵng. Ảnh X.

Hồ Xuân Mai

Nguồn VietTimes: https://viettimes.vn/sandbox-tai-san-ma-hoa-mo-co-hoi-cho-du-lich-so-da-nang-post207106.html