Sắp ban hành nghị quyết tháo gỡ vướng mắc về cấp mã số vùng trồng
Chiều 13/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo trực tuyến lấy ý kiến đối với Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Vùng bưởi da xanh Mỹ Phong (Đồng Tháp) hiện đã được cấp 5 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Úc. Ảnh: Hữu Chí/TTXVN
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, trước yêu cầu cấp bách của sản xuất, đặc biệt khi vụ thu hoạch sầu riêng tại Tây Nguyên chỉ còn khoảng 10 ngày nữa sẽ bước vào chính vụ, Chính phủ đã đồng ý ban hành một nghị quyết để tháo gỡ ngay những khó khăn trong công tác cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, trong khi chờ sửa đổi toàn diện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Dự kiến nghị quyết sẽ được ban hành và có hiệu lực từ ngày 15/7.
Cùng với việc ban hành nghị quyết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ hoàn thiện quy trình giải quyết thủ tục hành chính toàn trình trên môi trường điện tử thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Việc cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo quy trình mới cũng sẽ được triển khai từ ngày 15/7.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, mục tiêu của việc sửa đổi là đơn giản hóa thủ tục để các địa phương có thể triển khai ngay, rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm quy trình mới thực sự khả thi, không phát sinh thêm thủ tục hoặc gây khó khăn trong thực hiện.
“Việc đổi mới quy trình cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu mà còn phục vụ công tác quản lý nhà nước. Mục tiêu lâu dài là xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ, kiểm soát quy trình sản xuất, bảo đảm an toàn thực phẩm cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh.
Góp ý đối với dự thảo nghị quyết, đại diện Bộ Công an đề nghị làm rõ quy định về thời gian xử lý hồ sơ đối với mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Theo đó, ngoài quy định thời gian xử lý 10 ngày tại địa phương, dự thảo cần quy định cụ thể thời hạn cơ quan địa phương chuyển hồ sơ lên Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng như thời gian cơ quan đầu mối của bộ gửi hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, nhằm bảo đảm quy trình thông suốt và tránh phát sinh vướng mắc.
Đại diện Bộ Công an cũng đề nghị quy định cụ thể nội dung tiền kiểm và hậu kiểm đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói để các địa phương có căn cứ triển khai thống nhất.
Sau khi tiếp thu ý kiến từ các địa phương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất lựa chọn phương án cấp mã số vùng trồng dựa trên cơ sở dữ liệu đất đai. Trường hợp khu đất sản xuất chưa được cập nhật trong cơ sở dữ liệu thì UBND cấp xã sẽ xác nhận vị trí và diện tích để làm căn cứ cấp mã. Điều này vừa bảo đảm tính chính xác trong quản lý, vừa góp phần hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ phát triển nông nghiệp.
Đối với công tác quản lý sau cấp mã, Bộ Nông nghiệp và môi trường yêu cầu thực hiện đầy đủ cơ chế hậu kiểm, có biên bản và hồ sơ xác nhận theo quy định, đồng thời thay thế một số thủ tục tiền kiểm không còn cần thiết. Hồ sơ cấp mã phục vụ tiêu thụ trong nước sẽ được giải quyết trong thời gian 3 ngày và thực hiện hậu kiểm sau đó. Riêng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu vẫn phải thực hiện tiền kiểm trước khi cấp, với thời gian xử lý khoảng 10 ngày nhằm bảo đảm đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường nhập khẩu và giữ uy tín cho nông sản Việt Nam.
Đối với việc chuyển mã số vùng trồng sang các thị trường nhập khẩu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn trong việc tổng hợp và gửi danh sách theo yêu cầu của từng nước. Riêng với thị trường Trung Quốc, bộ sẽ tiếp tục đàm phán để rút ngắn chu kỳ chuyển danh sách mã số vùng trồng, bởi quy định hiện nay ba tháng mới gửi một lần chưa phù hợp với chu kỳ thu hoạch của nhiều loại nông sản, đặc biệt là sầu riêng.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề nghị các địa phương khẩn trương triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu mã số vùng trồng gắn với cơ sở dữ liệu đất đai; đồng thời khuyến khích phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác và các hình thức liên kết sản xuất nhằm hình thành vùng nguyên liệu tập trung, tạo điều kiện xây dựng các mã số vùng trồng có quy mô lớn và phát triển thương hiệu nông sản địa phương.
Liên quan đến chuyển đổi số, từ ngày 15/7, toàn bộ thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được thực hiện theo quy trình điện tử toàn trình. Bộ sẽ tổ chức tập huấn cho các địa phương trước thời điểm triển khai và yêu cầu cán bộ trực tiếp thực hiện phải tham gia đầy đủ để bảo đảm hệ thống vận hành thông suốt.
Theo Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt, dự thảo nghị quyết điều chỉnh một số quy định của Nghị định số 38/2026/NĐ-CP theo hướng đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, giảm thời gian và chi phí tuân thủ, không phát sinh thủ tục hành chính mới, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất. Việc cấp mã số sẽ gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm và truy xuất nguồn gốc; đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết hình thành vùng nguyên liệu tập trung để phát triển các mã số vùng trồng quy mô lớn.












