Sầu riêng Krông Nô: HTX học cách xây dựng thương hiệu gắn với sở hữu trí tuệ

Thông qua dự án hỗ trợ, một HTX ở xã Krông Nô (Đắk Lắk) đang từng bước tiếp cận chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, xây dựng nhãn hiệu và chuẩn hóa quy trình sản xuất. Các thành viên được hướng dẫn xây dựng thương hiệu gắn với sở hữu trí tuệ, hướng đến nâng cao giá trị sầu riêng và mở rộng cơ hội xuất khẩu.

Ở Krông Nô, sầu riêng đang trở thành cây trồng chủ lực trong chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn diện tích vẫn còn canh tác theo hộ gia đình, dựa vào kinh nghiệm. Chất lượng vì vậy chưa đồng đều. Điều này cũng khiến việc xây dựng tài sản sở hữu trí tuệ cho vùng sản xuất gặp nhiều khó khăn.

Học chuẩn hóa sản xuất

Muốn xây dựng thương hiệu và sở hữu trí tuệ bền vững, sản phẩm phải được bảo chứng bằng quy trình sản xuất đạt chuẩn. Đồng thời phải đáp ứng truy xuất nguồn gốc và hệ thống kiểm soát chất lượng.

Thành viên HTX được hướng dẫn ứng dụng công nghệ thông minh, chuẩn hóa trong canh tác sầu riêng.

Thành viên HTX được hướng dẫn ứng dụng công nghệ thông minh, chuẩn hóa trong canh tác sầu riêng.

Chính vì vậy, HTX Sầu riêng Thông Phong được tạo điều kiện tham gia một dự án tại xã Krông Nô nhằm thí điểm sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ thông minh. Điều này cũng nhằm giúp HTX tiếp cận và áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn sản xuất nông nghiệp an toàn như một phần cốt lõi để hình thành sở hữu trí tuệ cho sản phẩm.

Các hộ thành viên HTX được hướng dẫn sử dụng vật tư nông nghiệp đúng quy định. Đồng thời kiểm soát phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và ghi chép nhật ký sản xuất theo từng giai đoạn.

Điều đó không chỉ nhằm nâng chất lượng trái sầu riêng của HTX mà còn là điều kiện bắt buộc để tiến tới xây dựng mã số vùng trồng. Đây là yếu tố quan trọng trong việc xác lập quyền và giá trị của vùng sản xuất trong hệ thống sở hữu trí tuệ nông nghiệp.

Song song, HTX cũng được định hướng xây dựng mã số cơ sở đóng gói, đảm bảo sản phẩm sau thu hoạch được xử lý, phân loại và bảo quản đúng quy chuẩn. Đây là mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị, góp phần hoàn thiện “hồ sơ sở hữu trí tuệ” của sản phẩm từ vườn đến thị trường.

Một điểm thay đổi lớn trong dự án ở Krông Nô là đưa chuyển đổi số vào toàn bộ quá trình sản xuất, coi dữ liệu là nền tảng để hình thành giá trị sở hữu trí tuệ.

Các thành viên HTX khi tham gia được hỗ trợ điện thoại thông minh và ứng dụng quản lý nông nghiệp để ghi nhận toàn bộ hoạt động canh tác. Từ tưới nước, bón phân, chăm sóc đến theo dõi sâu bệnh đều được cập nhật theo thời gian thực.

Thay đổi cách nhìn từ chuyển đổi số

Ông Chu Văn Thông, Giám đốc HTX Sầu riêng Thông Phong, cho biết chuyển đổi số giúp các thành viên thay đổi cách nhìn về sản xuất và sở hữu trí tuệ. Trước đây bà con chỉ làm theo kinh nghiệm. Khi áp dụng công nghệ, mọi thứ được ghi nhận bằng dữ liệu. Điều này giúp minh bạch quy trình và là cơ sở để xây dựng truy xuất nguồn gốc, từ đó hình thành giá trị thương hiệu và sở hữu trí tuệ.

Theo ông, dữ liệu sản xuất chính là “chứng cứ kỹ thuật” quan trọng để chứng minh chất lượng – yếu tố cốt lõi trong việc xây dựng và bảo vệ sở hữu trí tuệ nông sản. Truy xuất nguồn gốc: điều kiện bắt buộc của tài sản sở hữu trí tuệ

Thực tế cho thấy, truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà là thành phần cấu thành của sở hữu trí tuệ hiện đại trong nông nghiệp. Thông qua hệ thống số hóa, mỗi lô sầu riêng của HTX có thể được gắn thông tin đầy đủ về vùng trồng, quy trình canh tác, thời gian thu hoạch và cơ sở đóng gói.

Từ đó giúp sản phẩm có thể được kiểm chứng minh bạch, tạo niềm tin cho doanh nghiệp thu mua và người tiêu dùng, đồng thời nâng cao giá trị thương hiệu. Truy xuất nguồn gốc cũng là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu. Nhất là khi tính minh bạch đang trở thành tiêu chí bắt buộc trong đánh giá chất lượng và sở hữu trí tuệ của sản phẩm.

Song song với chuẩn hóa sản xuất, HTX Sầu riêng Thông Phong đang được hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu tập thể cho sầu riêng Krông Nô, bước đầu hình thành công cụ pháp lý cho sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, theo cách tiếp cận mới, sở hữu trí tuệ không dừng lại ở nhãn hiệu, mà là tổng hòa của nhiều yếu tố: chất lượng sản phẩm ổn định, quy trình sản xuất chuẩn hóa, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và uy tín thị trường.

Ông Chu Văn Thông nhấn mạnh: “Thương hiệu không thể chỉ dựa vào tên gọi hay bao bì. Muốn có sở hữu trí tuệ bền vững thì phải bắt đầu từ chất lượng và quy trình sản xuất. Không có tiêu chuẩn thì không thể có giá trị lâu dài.”

Nhận thức này đang giúp các thành viên HTX chuyển từ tư duy sản xuất đơn lẻ sang tư duy xây dựng tài sản sở hữu trí tuệ theo chuỗi giá trị. Để phục vụ xuất khẩu, HTX đang từng bước tiếp cận hệ thống quản lý chất lượng nông nghiệp, trong đó bao gồm kiểm soát đầu vào, giám sát quy trình canh tác và đảm bảo an toàn thực phẩm.

Các tiêu chí như dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, điều kiện thu hoạch và bảo quản được hướng dẫn cụ thể đến từng hộ thành viên. Việc áp dụng hệ thống này không chỉ giúp nâng cao chất lượng đồng đều mà còn là yêu cầu bắt buộc. Đặc biệt là để đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường như Trung Quốc, EU và Nhật Bản. Đây là những thị trường ngày càng coi trọng yếu tố sở hữu trí tuệ gắn với chất lượng và truy xuất.

Xây thương hiệu trên nền tảng sở hữu trí tuệ

Một hướng đi quan trọng của dự án sầu riêng tại xã Krông Nô là đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử nông sản. Trong môi trường số, sản phẩm không chỉ cạnh tranh bằng hình ảnh. Sản phẩm còn cạnh tranh bằng dữ liệu như vùng trồng, quy trình sản xuất, chứng nhận chất lượng và hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Mô hình sầu riêng Krông Nô đang được hỗ trợ xây dựng mã số vùng trồng và nhãn hiệu tập thể, hướng tới nâng cao giá trị sản phẩm.

Mô hình sầu riêng Krông Nô đang được hỗ trợ xây dựng mã số vùng trồng và nhãn hiệu tập thể, hướng tới nâng cao giá trị sản phẩm.

Điều này buộc HTX phải xây dựng thương hiệu số dựa trên nền tảng sở hữu trí tuệ, nơi giá trị sản phẩm được xác thực bằng dữ liệu thay vì chỉ quảng bá. Thương mại điện tử vì vậy không chỉ là kênh tiêu thụ mà còn là môi trường kiểm chứng và gia tăng giá trị của tài sản sở hữu trí tuệ nông nghiệp.

Theo ông Chu Văn Thông, điều quan trọng nhất của dự án không phải là công nghệ, mà là sự thay đổi tư duy về sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp.

“Bà con giờ hiểu rằng làm nông không chỉ là sản xuất, mà còn là tạo ra giá trị sở hữu trí tuệ thông qua dữ liệu, chất lượng và quy trình. Khi làm đúng thì giá trị sản phẩm sẽ khác hẳn,” ông nói.

Từ sản xuất theo kinh nghiệm chuyển sang sản xuất theo tiêu chuẩn, từ ghi chép thủ công chuyển sang dữ liệu số, từ bán nông sản chuyển sang xây dựng thương hiệu. Đó là quá trình đang hình thành nền tảng sở hữu trí tuệ tại HTX Sầu riêng Thông Phong.

Câu chuyện sầu riêng Krông Nô cho thấy một xu hướng mới. Sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp không bắt đầu từ văn bằng bảo hộ. Nó hình thành từ tiêu chuẩn, dữ liệu và cách tổ chức sản xuất.

Khi mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số và hệ thống quản lý chất lượng được triển khai đồng bộ, nền tảng sở hữu trí tuệ dần được hình thành. Từ đó, giá trị sản phẩm được nâng cao và cơ hội xuất khẩu cũng mở rộng.

Nhìn vào việc HTX Sầu riêng Thông Phong học cách xây dựng thương hiệu gắn với sở hữu trí tuệ, có thể thấy một xu hướng rõ ràng trong nông nghiệp Việt Nam. Đó là bước vào hội nhập quốc tế bằng sự minh bạch, tiêu chuẩn hóa và hệ thống sở hữu trí tuệ ngày càng hoàn thiện.

Thanh Bá

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/sau-rieng-krong-no-htx-hoc-cach-xay-dung-thuong-hieu-gan-voi-so-huu-tri-tue.html