Siết chặt 'phòng tuyến' chống khai thác IUU (bài 2)
Cùng với tăng cường phát hiện, xác minh và xử lý dứt điểm các hành vi vi phạm, ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu quả giám sát hành trình và đồng bộ cơ sở dữ liệu đang trở thành yêu cầu quan trọng trong công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Kết quả kiểm tra tại Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh và Cà Mau đã có nhiều chuyển biến trong số hóa công tác quản lý, song vẫn cần tiếp tục khắc phục những bất cập về kết nối, cập nhật và đối soát thông tin, bảo đảm dữ liệu phục vụ kiểm tra, kiểm soát chính xác, kịp thời.
Bài 2: Xử lý nghiêm vi phạm, khắc phục những “điểm nghẽn”
Qua rà soát hồ sơ và kết quả xử lý tại các địa phương, Đoàn kiểm tra Ban Chỉ đạo về chống khai thác IUU Bộ Quốc phòng tập trung đánh giá tiến độ giải quyết từng vụ việc, việc tổ chức thi hành các quyết định xử phạt và trách nhiệm của các cơ quan liên quan. Trên cơ sở đó, Đoàn kiểm tra yêu cầu các địa phương xử lý dứt điểm các vụ việc đã đủ căn cứ, đẩy nhanh thi hành quyết định xử phạt, không để hồ sơ tồn đọng, kéo dài; đồng thời tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tái phạm.

Cán bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng tuần tra, kiểm soát trên biển. Ảnh: Đơn vị cung cấp
Xử lý vi phạm phải nghiêm minh, quyết liệt, dứt điểm
Tại Lâm Đồng, công tác xử lý vi phạm được tập trung thực hiện đối với các vụ việc mới phát sinh và những trường hợp còn tồn đọng của các năm trước. Từ đầu năm 2026 đến thời điểm kiểm tra, các cơ quan chức năng đã phát hiện, xử lý 195 vụ vi phạm hành chính liên quan đến IUU và lĩnh vực thủy sản, với tổng số tiền xử phạt hơn 2,785 tỷ đồng. Trong số các quyết định đã ban hành, 153 quyết định đã được thi hành, 42 quyết định đang tiếp tục được tổ chức thi hành. Bên cạnh đó, 3 vụ việc liên quan đến hành vi mất kết nối thiết bị giám sát hành trình đang được cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Đáng chú ý, địa phương đã tập trung giải quyết các trường hợp tàu cá mất kết nối thiết bị giám sát hành trình, vượt ranh giới trên biển còn tồn đọng của năm 2024 và 2025. Đến tháng 2/2026, toàn bộ 789 tàu cá thuộc diện rà soát đã được xem xét, xử lý; trong đó, 664 trường hợp bị xử phạt với tổng số tiền hơn 19,4 tỷ đồng; 125 hồ sơ được kết thúc sau khi xác minh, xác định không đủ căn cứ để xử phạt.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, công tác điều tra, xử lý vi phạm cũng được triển khai đối với nhiều nhóm hành vi. Từ đầu năm 2026 đến nay, cơ quan chức năng phát hiện 249 tàu cá vi phạm hành chính liên quan đến IUU và lĩnh vực thủy sản. Trong số này, 125 tàu đã được xử lý; các trường hợp khác được tiếp tục xác minh, hoàn thiện hồ sơ hoặc kết thúc hồ sơ sau khi xác định không đủ căn cứ xử lý. Ngoài vi phạm về thiết bị giám sát hành trình, thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt 111 vụ liên quan đến khai thác sai vùng, không cập cảng chỉ định để bốc dỡ thủy sản, không ghi nhật ký khai thác và một số hành vi khác, với tổng số tiền phạt hơn 2,258 tỷ đồng.
Tại Cà Mau, việc xử lý vi phạm được thực hiện bằng các biện pháp hành chính và hình sự. Địa phương đã xử lý hình sự 14 vụ liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản, trong đó, 12 vụ đã được xét xử, thi hành án. Về xử phạt hành chính, địa phương ban hành 235 quyết định, đã thi hành 214 quyết định, với số tiền nộp ngân sách hơn 5,1 tỷ đồng. Tính chung số hồ sơ được Đoàn kiểm tra rà soát, tỷ lệ thi hành quyết định xử phạt đạt hơn 93%.
Kết quả kiểm tra cho thấy, công tác phát hiện, xác minh và xử lý vi phạm tại 3 địa phương đã được triển khai quyết liệt hơn. Tuy nhiên, Đoàn kiểm tra cũng chỉ rõ, vẫn còn hồ sơ chưa được giải quyết dứt điểm, quyết định xử phạt chưa được thi hành và một số hành vi vi phạm đã được phát hiện nhưng chậm xử lý.
Không để công nghệ trở thành “điểm nghẽn”
Ứng dụng công nghệ, số hóa thủ tục xuất, nhập bến và kết nối các cơ sở dữ liệu đang giúp công tác quản lý tàu cá ngày càng chặt chẽ, minh bạch hơn. Tuy nhiên, kết quả kiểm tra cho thấy hiệu quả ứng dụng công nghệ phụ thuộc nhiều vào tính chính xác, khả năng liên thông và tốc độ cập nhật của dữ liệu. Những sai lệch giữa thông tin điện tử và tình trạng thực tế của phương tiện có thể làm chậm quá trình kiểm tra, xác minh, gây khó khăn cho lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ.

Cán bộ Đồn Biên phòng Phước Hải, Bộ đội Biên phòng thành phố Hồ Chí Minh tuyên truyền, giải thích các quy định pháp luật về khai thác thủy sản cho ngư dân địa phương. Ảnh: Quang Anh
Thực tế tại các địa phương, tỷ lệ sử dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) ngày càng tăng. Tại Lâm Đồng, 5.580/8.167 tàu cá được quản lý trên cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase) đã sử dụng eCDT. Riêng tại cảng cá La Gi, tỷ lệ lượt tàu cập cảng được Bộ đội Biên phòng duyệt trên hệ thống trong giai đoạn cao điểm từ ngày 17/7 đến ngày 3/9 đạt 98,6%.
Việc đẩy mạnh ứng dụng eCDT cũng tạo chuyển biến tại thành phố Hồ Chí Minh và Cà Mau. Tại Cà Mau, tỷ lệ lượt xuất, nhập cảng được Bộ đội Biên phòng duyệt trên eCDT đạt 64,79% trong giai đoạn đầu năm 2026 đến hết ngày 16/7. Gần 99% bản ghi yêu cầu xuất, nhập trạm được chuyển thành công sang phần mềm kiểm soát và được Bộ đội Biên phòng xử lý.
Tại khu vực Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, từ đầu năm 2026 đến hết ngày 16/7, Trạm Biên phòng cửa khẩu cảng Vũng Tàu, Ban Chỉ huy Biên phòng cửa khẩu cảng Bà Rịa - Vũng Tàu, Bộ đội Biên phòng thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 2.806 lượt tàu xuất, nhập trên sổ sách, trong khi phần mềm kiểm soát tại trạm ghi nhận 2.751 lượt; eCDT tại cảng Côn Đảo và Cát Lở ghi nhận 2.670 lượt, đạt 97,05% so với dữ liệu trên phần mềm kiểm soát.
Sự chênh lệch giữa các hệ thống cho thấy yêu cầu cấp thiết là phải bảo đảm dữ liệu được cập nhật đồng bộ, thống nhất và phản ánh đúng tình trạng hoạt động của từng phương tiện. Một vấn đề được Đoàn kiểm tra lưu ý là eCDT chưa đồng bộ dữ liệu theo thời gian thực với VNFishbase. Có trường hợp chủ tàu đã thay đổi thông tin trên cơ sở dữ liệu quản lý nhưng thông tin mới chưa được cập nhật kịp thời trên eCDT. Khi chủ tàu hoặc thuyền trưởng tạo yêu cầu xuất, nhập bến, thông tin giữa hai hệ thống không trùng khớp, cán bộ phải kiểm tra, xác minh lại trước khi giải quyết thủ tục. Điều này làm tăng thời gian đối chiếu, đồng thời đặt ra yêu cầu phải xác định rõ nguồn dữ liệu làm căn cứ cho công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý.
Theo kết quả kiểm tra, công tác chống khai thác IUU tại 3 địa phương đã có chuyển biến rõ trong phát hiện, xử lý vi phạm, thi hành quyết định xử phạt, ứng dụng công nghệ và quản lý dữ liệu. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, các địa phương cần tiếp tục giải quyết dứt điểm các vụ việc còn tồn đọng, tăng cường phối hợp giữa các lực lượng, hoàn thiện khả năng liên thông, cập nhật và đối soát thông tin trên các hệ thống quản lý. Việc siết chặt kỷ cương, nâng cao chất lượng dữ liệu và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm sẽ góp phần xây dựng hoạt động khai thác thủy sản có trách nhiệm, bền vững và thực hiện mục tiêu gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU của Ủy ban châu Âu.


