Siết điều kiện đào tạo cử nhân luật nhìn từ yêu cầu bảo vệ sinh viên
Với lộ trình minh bạch và chính sách hỗ trợ thỏa đáng, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một hệ thống đào tạo cử nhân luật vừa đảm bảo về chất lượng, vừa tạo sự công bằng về cơ hội tiếp cận.
Trong bối cảnh giáo dục đại học ngày càng mở rộng, việc siết điều kiện mở ngành luật đang gây sự chú ý của dư luận, nhất là ở các cơ sở đào tạo cử nhân luật.
Chỉ đạo ngày 25-11-2025 của Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình về việc kiên quyết siết lại điều kiện mở ngành đối với lĩnh vực đặc thù này là bước chuyển dịch chính sách quan trọng.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay không đơn thuần là "cấm" hay "mở", mà là làm sao xây dựng một khung pháp lý minh bạch, khoa học cùng lộ trình thực hiện nhân văn để vừa sàng lọc được các cơ sở yếu kém, vừa bảo vệ tối đa quyền lợi của sinh viên; phù hợp với định hướng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao mà Chính phủ đang hướng tới.

Một lớp học môn Luật Hành chính tại Trường ĐH Kinh tế-Luật (ĐHQG TP.HCM). Ảnh: CVM
Phân loại "trường chuyên" và "trường không chuyên"
Một trong những giải pháp trọng tâm của chính sách siết điều kiện mở ngành là phân loại rõ ràng giữa "trường chuyên" và "trường không chuyên" nhằm xác định năng lực đào tạo thực tế của từng cơ sở giáo dục, tạo cơ sở pháp lý cho việc cấp phép, giám sát và kiểm định chất lượng sau này.
Trước hết, cần xác lập một hệ thống định nghĩa thống nhất tiêu chuẩn về "trường chuyên" và "trường không chuyên" từ việc ban hành các văn bản của nhà nước nhằm hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này. Việc phân biệt này cần mang tính chuẩn hóa quốc tế.
Trường chuyên ngành (trường chuyên) là những cơ sở đáp ứng đầy đủ và nghiêm ngặt các tiêu chí cốt lõi về đội ngũ giảng viên cơ hữu, cơ sở vật chất hiện đại và chuẩn đầu ra được kiểm định độc lập. Nhờ hội tụ đủ điều kiện đào tạo chuyên sâu, nhóm trường này được phép tự chủ mở ngành, tổ chức tuyển sinh và đào tạo trực tiếp; chịu trách nhiệm toàn diện về xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo và đảm bảo chất lượng đầu ra.
Ngược lại, trường không chuyên là các cơ sở chưa đáp ứng đủ các tiêu chí theo quy định quốc gia. Những trường này bị giới hạn hoạt động, tuyệt đối không được phép tự tổ chức đào tạo trực tiếp ngành luật. Nếu muốn tham gia đào tạo, các trường này buộc phải thực hiện thông qua cơ chế hợp tác, liên kết hoặc chuyển tiếp với các trường chuyên nhằm đảm bảo sinh viên vẫn có cơ hội học tập nhưng ở trong môi trường đạt chuẩn.
Việc phân loại này phải dựa trên hệ thống tiêu chí công khai, bao gồm cả khả năng nghiên cứu khoa học và hợp tác với cơ sở hành nghề thực tế.
Lộ trình thực hiện và cam kết bảo vệ sinh viên
Việc siết quản lý là cần thiết nhưng một số tồn tại cần phải giải quyết. Tôi đề xuất một lộ trình chuyển tiếp để tránh gây gián đoạn quyền học tập của sinh viên.
Quy định chặt chẽ tuyển sinh và đào tạo
Về tuyển sinh, Trường chuyên được phép tuyển sinh trực tiếp, dựa trên kỳ thi quốc gia hoặc xét tuyển theo kết quả thi đánh giá năng lực chuyên biệt. Trường không chuyên chỉ được tuyển sinh theo chương trình liên kết hoặc chuyển tiếp. Sinh viên phải được thông báo rõ ràng về tình trạng trường chuyên hoặc trường không chuyên trước khi nộp hồ sơ.
Về đào tạo, Trường chuyên chịu trách nhiệm xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, kiểm định chất lượng. Trường không chuyên chỉ tham gia theo hợp đồng liên kết, đảm bảo sinh viên thực hành tại cơ sở đạt chuẩn. Trước khi tốt nghiệp, các chương trình phải trải qua kiểm định chất lượng; nếu không đạt, trường không được tiếp tục tuyển sinh.
Thứ nhất: Xử lý các trường đang đào tạo ngành luật nhưng chưa đáp ứng tiêu chuẩn
Cần xây dựng lộ trình 3-5 năm để các trường nâng cấp toàn diện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và chương trình đào tạo để đạt chuẩn "trường chuyên". Trong thời gian này, các trường được phép tiếp tục đào tạo nhưng phải công khai lộ trình và có phương án liên kết thực hành.
Thứ hai: bảo đảm quyền lợi cho sinh viên hiện tại
Đối với sinh viên đang theo học tại các cơ sở chưa đạt chuẩn, quyền lợi học tập phải được đặt lên hàng đầu:
- Được tiếp tục học tập cho đến khi tốt nghiệp; hoặc được tạo điều kiện chuyển tiếp sang trường chuyên theo nguyện vọng, với mức học phí và thời gian học được ưu tiên hợp lý.
- Các trường đang đào tạo được phép duy trì hoạt động cho đến khi khóa tuyển sinh cuối cùng ra trường.
- Chương trình đào tạo dù học ở đâu cũng phải được kiểm định và đảm bảo chuẩn đầu ra tương đương.
Thứ ba: Bảo đảm quyền lợi về học phí và thông tin minh bạch
- Tất cả cơ sở đào tạo ngành luật phải công khai các chỉ số: tỉ lệ sinh viên/ giảng viên, địa điểm thực hành, cơ sở vật chất...

Thạc sĩ-Luật sư Vũ Duy Nam
- Đặc biệt, sinh viên có quyền yêu cầu hoàn trả hoặc giảm học phí nếu chất lượng đào tạo thực tế không đúng cam kết đã công bố.
- Cơ quan quản lý cần có cơ chế giải quyết khiếu nại, phản ánh từ sinh viên, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người học.
Thứ tư: Giám sát và đánh giá liên tục
- Để chính sách đi vào thực tiễn, cần thiết lập cơ chế giám sát liên ngành chặt chẽ giữa Bộ GD&ĐT và Bộ Tư pháp. Hoạt động kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện định kỳ, tối thiểu 2 năm/lần đối với tất cả các cơ sở đào tạo luật.
- Kết quả đánh giá này là căn cứ quyết định việc tiếp tục cấp phép mở ngành hoặc phải liên kết đào tạo; phải được công khai rộng rãi cho xã hội giám sát.
Xây dựng nền tảng nhân lực pháp lý bền vững
Việc siết chặt điều kiện mở ngành đối với ngành luật thông qua phân loại rõ ràng giữa cơ sở đào tạo chuyên ngành và các trường đa ngành đi kèm với bộ tiêu chuẩn nghiêm ngặt, cơ chế kiểm định độc lập và minh bạch thông tin, không chỉ là biện pháp quản lý nhà nước mà còn là trách nhiệm xã hội thiết yếu.
Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi người học, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho một nghề nghiệp mang tính đặc thù cao, ảnh hưởng trực tiếp đến công lý và quyền công dân.
Để thực hiện được việc trên cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Ban hành Thông tư liên tịch giữa Bộ GD&ĐT và Bộ Tư pháp về "Tiêu chí mở ngành và quản lý chuyển tiếp cho đào tạo luật"
Xác định rõ ràng lộ trình thực hiện từ 3 đến 5 năm để các cơ sở đào tạo chuẩn bị và thích nghi.
Có các quy định bắt buộc về công khai các tiêu chí kiểm định và điều kiện bảo đảm chất lượng.
Đối với các Khoa/Trường chưa đảm bảo tiêu chí, cần xây dựng đề án nâng cấp trong thời hạn 3 đến 5 năm với hồ sơ chứng minh năng lực thực tế như phải có nguồn vốn và dự toán chi tiết, khả thi; có hợp đồng hợp tác chiến lược với các cơ sở hành nghề luật, lộ trình tuyển dụng giảng viên…
Thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển ngành luật, tập trung cho các vùng khó khăn thông qua cơ chế cấp dự án, ưu tiên nguồn lực cho các trường có đề án nâng cấp khả thi, thiết thực và cam kết chất lượng.
Có cơ chế kiểm định độc lập và minh bạch về tiêu chí, công bố danh sách chuyên gia kiểm định uy tín, áp dụng cơ chế luân phiên và có biện pháp xử lý nghiêm nếu phát sinh xung đột lợi ích.
Xây dựng Quy chế xử lý mạnh tay đối với các sai phạm bao gồm: kiên quyết dừng tuyển sinh, buộc hoàn trả học phí, xử lý hành chính/kỷ luật đối với người đứng đầu nếu phát hiện có gian dối trong báo cáo năng lực hoặc không thực hiện đúng cam kết.
Với một lộ trình khả thi cùng các khuyến nghị chính sách rõ ràng, chúng ta có cơ hội xây dựng một hệ thống giáo dục đại học chuyên nghiệp, công bằng, minh bạch cho ngành luật. Việc làm này không chỉ dừng lại ở việc nâng cao uy tín của các cơ sở đào tạo, mà còn bảo đảm quyền lợi hợp pháp của sinh viên, góp phần củng cố hệ thống tư pháp và sự phát triển bền vững của xã hội.
Quyền lợi của sinh viên phải đặt lên trước
Việc siết điều kiện mở ngành tạo thách thức cho các trường vùng sâu, vùng xa, nhưng không triệt tiêu cơ hội. Giải pháp cân bằng giữa chất lượng và quyền tiếp cận giáo dục nằm ở cơ chế liên kết đào tạo, chuyển tiếp và hỗ trợ tài chính cho người học. Quan trọng nhất là cần lộ trình triển khai hợp lý, tránh cứng nhắc, để tạo động lực đổi mới thay vì gây áp lực lên sự phát triển của các trường.
Có thể có ý kiến phản biện rằng việc siết điều kiện mở ngành, phân loại trường chuyên, trường không chuyên... có thể đóng khung, hạn chế quyền tự chủ đại học, giảm cơ hội học tập cho người học, đặc biệt ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa. Để khắc phục tình trạng đó chúng ta cần:
Thứ nhất, cho phép hình thức liên kết, chuyển tiếp, hợp tác không loại bỏ hoàn toàn cơ hội học;
Thứ hai, hỗ trợ các trường ở vùng khó khăn nâng cấp: hỗ trợ về cơ sở vật chất, giảng viên, hợp tác với trường chuyên, ưu tiên đầu tư công.
Thứ ba, xây dựng các chính sách hỗ trợ sinh viên học bổng, hỗ trợ chuyển tiếp, ưu tiên học phí đối với sinh viên tại vùng khó khăn.
Tuy nhiên cần minh định rõ quyền tự chủ đại học không đồng nghĩa với quyền mở ngành không giới hạn; lợi ích xã hội và quyền lợi sinh viên phải được đặt lên trước.














