Sinh viên ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ chiến lược được xét học bổng thế nào?
Nhóm không quá 30% thí sinh có điểm cao nhất được xác định theo từng nhóm ngành trên toàn quốc; người học không phải nộp hồ sơ riêng và không phải làm thêm thủ tục khi chuyển ngành, chuyển trường.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ban hành Thông tư 80/2026/TT-BGDĐT, quy định chi tiết một số nội dung và biện pháp tổ chức thực hiện chính sách học bổng đối với người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

Chính sách học bổng áp dụng với người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược (Ảnh minh hoạ).
Theo đó, quy định cách xác định người học thuộc diện hưởng học bổng, tổ chức xét và chi trả, quản lý dữ liệu và kinh phí để thực hiện chính sách thống nhất trên cả nước.
Các ngành thuộc diện hưởng học bổng được xác định theo Danh mục ngành đào tạo khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược do Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo ban hành. Danh mục được cập nhật phù hợp với hệ thống ngành đào tạo hiện hành.
Trường hợp mã ngành, tên ngành hoặc cách phân loại ngành thay đổi, quyền hưởng học bổng của người học đã được xác định trước đó không bị ảnh hưởng.
Thông tư cũng quy định cách xác định nhóm không quá 30% thí sinh có điểm cao nhất theo từng nhóm ngành trên phạm vi toàn quốc. Đây là một trong những căn cứ để xét hưởng học bổng theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP.
Dữ liệu xác định nhóm này gồm người học trúng tuyển trong đợt tuyển sinh chung vào ngành thuộc diện áp dụng chính sách, không phân biệt phương thức xét tuyển, nếu có kết quả thi tốt nghiệp THPT ở các môn theo quy định.
Điểm dùng để xác định nhóm 30% gồm điểm môn Toán và hai môn có điểm cao nhất trong số Vật lý, Hóa học, Sinh học và Tiếng Anh, tính theo thang điểm 10 và không nhân hệ số. Điểm ưu tiên, điểm cộng, điểm quy đổi từ chứng chỉ hoặc kết quả của phương thức, kỳ thi, hình thức đánh giá khác không được tính.
Với mỗi nhóm ngành, thí sinh được xếp theo tổng điểm từ cao xuống thấp và lựa chọn trong giới hạn không quá 30% số thí sinh có dữ liệu hợp lệ.
Nếu tại vị trí cuối danh sách có nhiều thí sinh bằng điểm và việc đưa toàn bộ vào nhóm khiến số lượng vượt quá 30%, toàn bộ thí sinh ở mức điểm đó sẽ không được đưa vào nhóm. Không sử dụng thêm tiêu chí phụ để lựa chọn một số thí sinh trong nhóm cùng điểm.
Mức điểm xét hưởng học bổng của từng nhóm ngành được xác định bằng mức cao hơn giữa 22,50 điểm và mức điểm thấp nhất của nhóm không quá 30% thí sinh có điểm cao nhất.
Sau khi có kết quả trúng tuyển của đợt tuyển sinh chung, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định, công bố mức điểm của từng nhóm ngành. Nhóm không quá 30% được xác định trên cơ sở dữ liệu của đợt tuyển sinh chung trong năm tuyển sinh và không xác định lại đối với các đợt xét tuyển bổ sung.
Người học không phải tự làm và nộp hồ sơ đề nghị xét hưởng hoặc tiếp tục hưởng học bổng. Thông tin phục vụ xét học bổng được khai thác từ dữ liệu tuyển sinh, đào tạo và các hệ thống thông tin hiện có, đồng thời được cập nhật, xác nhận trên Nền tảng quản trị đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chiến lược quốc gia.
Những giấy tờ, thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu mà cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo được phép khai thác cũng không phải cung cấp lại.
Trường hợp dữ liệu còn thiếu, chưa chính xác hoặc chưa thống nhất, cơ sở đào tạo có trách nhiệm kiểm tra, xác minh và cập nhật. Người học chỉ phối hợp xác minh thông tin khi cần thiết.
Đối với sinh viên đại học thuộc diện xét học bổng lần đầu, việc xét hưởng được hoàn thành trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi cơ sở đào tạo xác nhận người học nhập học. Với người học sau đại học, việc xét duyệt được hoàn thành trước ngày 30/10 của năm tuyển sinh.
Kết quả xét học bổng được công khai. Tuy nhiên, các thông tin cá nhân như mã định danh, số tài khoản và thông tin thuộc đời sống riêng tư của người học phải được bảo vệ theo quy định.
Học bổng được chi trả định kỳ theo tháng, theo mức và thời gian quy định tại Nghị định 179/2026/NĐ-CP, trong phạm vi kinh phí ngân sách nhà nước được giao.
Trước khi chi trả, cơ quan, đơn vị thực hiện phải đối chiếu để bảo đảm đúng người, đúng mức hưởng; không chi trùng thời gian hoặc trùng nguồn kinh phí. Việc thanh toán được thực hiện bằng phương thức không dùng tiền mặt hoặc phương thức hợp pháp khác.
Trường hợp người học chuyển ngành, chuyển chương trình hoặc chuyển sang cơ sở đào tạo khác, người học không phải làm thêm hồ sơ riêng về học bổng. Các cơ sở đào tạo có trách nhiệm cập nhật, đối soát dữ liệu để xác định việc tiếp tục hưởng chính sách.
Người học không phải làm thủ tục đề nghị chuyển hoặc tiếp tục hưởng học bổng riêng ngoài thủ tục chuyển ngành, chuyển chương trình hoặc chuyển cơ sở đào tạo theo quy định.
Cơ sở đào tạo, cơ quan, đơn vị không được đặt thêm điều kiện hưởng học bổng ngoài các điều kiện quy định tại Nghị định 179/2026/NĐ-CP.
Thông tư cũng quy định người học tuyển sinh từ năm 2025 được áp dụng chính sách học bổng kể từ ngày 1/9/2026 nếu đáp ứng đủ các điều kiện. Thời gian hưởng được tính trong phần thời gian còn lại của thời gian đào tạo chuẩn của chương trình.
Đối với người học tuyển sinh năm 2025 và 2026, việc xét hưởng lần đầu được thực hiện theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP và Thông tư 80/2026/TT-BGDĐT. Kinh phí thực hiện trong năm 2026 được tính từ ngày 1/9/2026, không tính cho thời gian trước thời điểm này.

