Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Giảm thủ tục nhưng không hạ chuẩn
Theo TS. Trịnh Xuân Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam, sửa Luật Bảo vệ môi trường cần giảm chi phí tuân thủ nhưng phải quản lý chặt theo rủi ro, tải lượng và sức chịu tải của môi trường.
Theo hồ sơ trình Quốc hội thẩm tra sơ bộ vào tháng 9/2026, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi 78/171 điều, bổ sung 2 điều mới, tập trung vào 5 nhóm chính sách lớn. Trước đó, đến ngày 28/8, cơ quan chủ trì soạn thảo đã nhận 114 văn bản với gần 700 ý kiến góp ý. Dự án Luật dự kiến được trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai vào tháng 10/2026.
Chuẩn hóa từ khái niệm để tránh cách hiểu khác nhau
TS. Trịnh Xuân Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam đánh giá, dự thảo đã định hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, quản trị môi trường dựa trên dữ liệu, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp và thị trường carbon là cần thiết. Vấn đề quan trọng là các quy định phải đồng thời bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, khả thi và có cơ sở khoa học. Như vậy, dự thảo Luật sửa đổi cần tập trung vào ba vấn đề lớn: chuẩn hóa các khái niệm; chuyển mạnh sang quản lý môi trường dựa trên rủi ro, tải lượng và khả năng chịu tải; cải cách thủ tục nhưng phải đi cùng trách nhiệm và công cụ hậu kiểm đủ mạnh.

TS. Trịnh Xuân Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam.
Theo TS. Trịnh Xuân Đức, một đạo luật muốn thực thi thống nhất trước hết phải có hệ thống thuật ngữ rõ ràng. Trong khi đó, một số khái niệm tại dự thảo cần tiếp tục được chuẩn hóa.
Đơn cử, dự thảo định nghĩa tín chỉ carbon là chứng nhận được đo lường theo đơn vị tấn CO2 hoặc tấn CO2, tương đương phát sinh từ hoạt động giảm phát thải khí nhà kính. Cách diễn đạt này chưa chuẩn hóa đơn vị, bởi về bản chất một tín chỉ carbon cần đại diện cho một tấn CO2 tương đương.
Ông đề xuất xác định rõ tín chỉ carbon là chứng nhận đại diện cho 1 tCO2e của kết quả giảm hoặc tránh phát thải, tăng cường hấp thụ hoặc loại bỏ khí nhà kính; được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận, đăng ký và được trao đổi, chuyển nhượng hoặc sử dụng theo pháp luật. Việc bổ sung yêu cầu đăng ký cũng giúp tăng khả năng truy xuất và hạn chế nguy cơ tính trùng tín chỉ.
Tương tự, khái niệm "các chất được kiểm soát" cần gắn cụ thể với danh mục phải kiểm soát theo pháp luật và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thay vì quy định chung là chất "được kiểm soát theo quy định". Khái niệm "vệ sinh công cộng" cũng cần bao quát cả hoạt động làm sạch khu vực công cộng, lưu giữ chất thải, quản lý, vận hành và bảo trì công trình vệ sinh công cộng.
Một vấn đề kỹ thuật khác nhưng có tác động trực tiếp tới doanh nghiệp là cách xác định lưu lượng nước thải, khí thải. TS. Đức cho rằng, cần phân biệt "lưu lượng phát sinh phải xử lý” với “lưu lượng xả ra môi trường". Thông số thứ nhất phục vụ thiết kế công trình thu gom, xử lý; thông số thứ hai phục vụ phân loại dự án, cấp phép và kiểm soát nguồn thải.

Hồ chứa xỉ được phủ bạt, xung quanh trồng cây xanh và thường xuyên được phun nước để tránh phát tán bụi ra môi trường.
Do đó, Luật cần tạo cơ sở để quy định thống nhất phương pháp xác định, đơn vị đo, khoảng thời gian, điều kiện quy đổi khí thải về trạng thái tiêu chuẩn cũng như cách tính theo từng dòng, từng điểm xả và tổng lưu lượng của dự án.
Quản lý dự án theo mức độ rủi ro thực tế
Một trong những thay đổi lớn của dự thảo là tiếp tục đơn giản hóa thủ tục đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, giảm tiền kiểm và tăng hậu kiểm. Đây cũng là hướng được cơ quan soạn thảo xác định nhằm giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
TS. Trịnh Xuân Đức đồng tình với hướng cải cách này nhưng cho rằng, việc phân loại dự án cần tiến thêm một bước: thay vì chủ yếu căn cứ vào loại hình, quy mô, công suất hay lưu lượng xả thải, phải phản ánh được nguy cơ môi trường thực tế.
Hai dự án có cùng công suất nhưng sử dụng công nghệ, hóa chất và phát sinh chất ô nhiễm khác nhau thì mức độ rủi ro không giống nhau. Vì vậy, tiêu chí phân loại cần xem xét thêm tính chất nguy hại, nồng độ và tải lượng chất ô nhiễm, công nghệ, hóa chất sử dụng, nguy cơ sự cố, khả năng lan truyền và tích lũy chất ô nhiễm, tác động liên vùng, xuyên biên giới cũng như khả năng chịu tải của môi trường tiếp nhận.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với định hướng đang được đặt ra trong quá trình sửa luật là chuyển từ quản lý chủ yếu bằng công cụ hành chính sang quản trị môi trường hiện đại dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu và rủi ro.
Với thủ tục đánh giá tác động môi trường (ĐTM), TS. Đức đề xuất một giải pháp nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án nhưng không bỏ qua "chốt chặn" môi trường.
Thay vì phải chờ quy hoạch chi tiết được phê duyệt mới được đề nghị thẩm định ĐTM, chủ đầu tư có thể được phép nộp và thẩm định hai hồ sơ đồng thời. Tuy nhiên, kết quả thẩm định ĐTM chỉ được ban hành sau khi quy hoạch chi tiết được phê duyệt. Nếu quy hoạch sau phê duyệt thay đổi theo hướng làm gia tăng tác động xấu tới môi trường, chủ dự án phải cập nhật, bổ sung hoặc thực hiện lại ĐTM.
Như vậy, cải cách không đồng nghĩa với bỏ điều kiện kiểm soát, mà là tổ chức các thủ tục song song để tiết kiệm thời gian.
Không để nguồn nước hết sức chịu tải vẫn phải "gánh" thêm ô nhiễm
Một trong những nội dung TS. Trịnh Xuân Đức đặc biệt lưu ý là quản lý nguồn thải vào môi trường nước mặt. Dự thảo quy định không được xả trực tiếp khi môi trường nước mặt "không còn khả năng chịu tải đối với tất cả các thông số bắt buộc đánh giá". Theo ông, cách diễn đạt này có thể dẫn tới cách hiểu rằng nếu nguồn nước mới hết khả năng chịu tải đối với một hoặc một số thông số thì vẫn có thể tiếp tục tiếp nhận thêm chính các chất ô nhiễm đó.

Hệ thống xử lý nước thải của Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải.
Do vậy, việc quản lý cần thực hiện theo từng thông số ô nhiễm, căn cứ đồng thời vào lưu lượng, nồng độ và tải lượng.
"Không được làm suy giảm chất lượng nguồn nước hoặc làm gia tăng tải lượng đối với thông số môi trường mà nguồn nước không còn khả năng chịu tải" là hướng chỉnh lý được TS. Đức đề xuất. Khi đánh giá sức chịu tải cũng cần tính tới mùa kiệt, tải lượng tích lũy, các nguồn thải đã được cấp phép và hệ số an toàn môi trường.
Đây là điểm đặc biệt quan trọng trong bối cảnh dự thảo đang hướng tới áp dụng kết quả đánh giá khả năng chịu tải của môi trường nước mặt linh hoạt hơn. Dự thảo công bố trước đó cũng đặt vấn đề cho phép Chính phủ quy định chi tiết trường hợp xả nước thải khi môi trường nước mặt còn khả năng chịu tải đối với một hoặc một số thông số.
Theo TS. Trịnh Xuân Đức, tinh thần xuyên suốt khi sửa Luật cần là giảm chi phí tuân thủ nhưng không làm suy giảm chuẩn mực bảo vệ môi trường. Muốn vậy, việc phân cấp, phân quyền phải đi cùng trách nhiệm rõ ràng của người đứng đầu; giảm tiền kiểm phải có phương pháp kỹ thuật và cơ chế hậu kiểm đủ mạnh; còn quản lý nguồn thải phải dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro thực tế.
Các đề xuất không chỉ nhằm chỉnh sửa từng câu chữ, mà hướng tới một nguyên tắc lớn hơn: chuyển từ quản lý môi trường theo quy mô và thủ tục sang quản trị bằng rủi ro, tải lượng và sức chịu tải thực tế của môi trường. Đây cũng là điều kiện để cải cách thủ tục thực sự hỗ trợ hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh mà không phải đánh đổi mục tiêu bảo vệ môi trường.
Việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường cần đẩy mạnh chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm, phân cấp quản lý và quản trị dựa trên mức độ rủi ro. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật minh bạch, thống nhất, áp dụng công cụ kinh tế và thị trường carbon sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, mở rộng phân cấp thẩm quyền, đồng thời bảo đảm tính khả thi, khoa học và tránh rủi ro trục lợi chính sách.
