Sức mạnh quốc gia từ phòng thí nghiệm: Bài cuối - Việt Nam có thể tham khảo gì từ thế giới?

Từ Mỹ, Trung Quốc đến Hàn Quốc, con đường trở thành cường quốc công nghệ có thể khác nhau, nhưng đều có một điểm chung: đầu tư cho khoa học cơ bản. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển các ngành công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay năng lượng mới, kinh nghiệm quốc tế cho thấy những đột phá của ngày mai phải được chuẩn bị từ các phòng thí nghiệm hôm nay.

Lời tòa soạn: Trong cuộc đua công nghệ toàn cầu, các quốc gia thường được nhắc đến với những thành tựu nổi bật như trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, công nghệ lượng tử hay dược phẩm sinh học. Tuy nhiên, phía sau những ngành công nghiệp trị giá hàng nghìn tỷ USD ấy là một nền tảng ít được chú ý hơn: khoa học cơ bản.

Nhiều quốc gia phát triển đã dành hàng chục năm, thậm chí hàng thế hệ, đầu tư cho những nghiên cứu chưa nhìn thấy ngay giá trị thương mại. Không ít công trình từng bị xem là “quá hàn lâm”, “không thực tế” nhưng sau đó lại trở thành nền tảng cho những đột phá làm thay đổi thế giới.

Tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia ngày 25/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: Việt Nam phải xác định rõ nghiên cứu khoa học cơ bản không phải hoạt động học thuật thuần túy, mà là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia trong thế kỷ 21. Đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc, cho năng lực tự chủ quốc gia, cho chiều sâu phát triển và cho sức cạnh tranh lâu dài của đất nước. Chúng ta không chỉ giải quyết câu chuyện của ngành khoa học hôm nay, mà đang chuẩn bị nền tảng tri thức cho tương lai phát triển của đất nước trong nhiều thập niên tới.

Trong loạt bài “Sức mạnh quốc gia từ phòng thí nghiệm”, Báo Đại biểu Nhân dân giới thiệu kinh nghiệm của một số quốc gia đã thành công trong việc xây dựng năng lực khoa học nền tảng, qua đó rút ra những kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt:

Bài 1: Nước Mỹ đã “gieo hạt” thế nào?

Bài 2: Một Trung Quốc không muốn “đi sau”

Bài 3: Kỳ tích Hàn Quốc không bắt đầu từ nhà máy

Bài cuối: Việt Nam có thể tham khảo gì từ thế giới?

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, ngày 25/5. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, ngày 25/5. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ lựa chọn xây dựng hệ thống nghiên cứu khoa học dựa trên niềm tin: tri thức mới là nguồn lực chiến lược của quốc gia. Trung Quốc, sau nhiều thập niên tăng trưởng nhờ sản xuất và xuất khẩu, đang đẩy mạnh đầu tư vào nghiên cứu cơ bản để giảm phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài. Hàn Quốc, từ một quốc gia nghèo tài nguyên, đã vươn lên thành cường quốc công nghệ bằng cách đặt khoa học và giáo dục vào trung tâm chiến lược phát triển.

Theo các chuyên gia, nhìn vào ba câu chuyện ở Mỹ, Trung Quốc và Hàn Quốc, có thể thấy một số bài học chung đáng để Việt Nam tham khảo.

Việt Nam đặt mục tiêu phát triển các ngành công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay năng lượng mới

Việt Nam đặt mục tiêu phát triển các ngành công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay năng lượng mới

Bài học đầu tiên là khoa học cơ bản cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư chiến lược, không phải một khoản chi tiêu đơn thuần.

Điểm đặc biệt của nghiên cứu cơ bản là rất khó dự báo kết quả. Không ai biết chính xác công trình nào sẽ tạo ra đột phá. Khi các nhà vật lý nghiên cứu cơ học lượng tử đầu thế kỷ XX, họ không hình dung rằng những phát hiện của mình sẽ dẫn tới transistor (bóng bán dẫn), chip bán dẫn và điện thoại thông minh nhiều thập niên sau này. Khi các nhà sinh học nghiên cứu RNA, họ cũng không nghĩ rằng công trình của mình sẽ trở thành nền tảng cho vaccine mRNA.

Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia dẫn đầu về công nghệ đều chấp nhận đầu tư cho những nghiên cứu chưa có ứng dụng trước mắt. Nhà nước đóng vai trò “nhà đầu tư kiên nhẫn”, tài trợ cho những lĩnh vực mà doanh nghiệp khó có động lực theo đuổi vì rủi ro cao và thời gian hoàn vốn quá dài.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: VGP

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: VGP

“Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã có bước đổi mới quan trọng khi xác định nghiên cứu cơ bản là hoạt động khám phá bản chất, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; chuyển mạnh sang cơ chế hậu kiểm, chấp nhận rủi ro khoa học, đề cao tự do nghiên cứu, liêm chính khoa học và trách nhiệm giải trình.
Như vậy, về chủ trương, đường hướng lớn đã rất rõ. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải tổ chức thực hiện thế nào cho đúng, cho trúng, cho hiệu quả; làm sao để khoa học cơ bản thật sự trở thành nền móng tri thức của quốc gia, chứ không chỉ dừng lại ở các đề tài rời rạc, phân tán, ngắn hạn”

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Việt Nam cần xác định đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn, tương tự đầu tư cho hạ tầng hay giáo dục. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển các ngành công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay năng lượng mới, việc gia tăng nguồn lực cho nghiên cứu nền tảng cần được xem là một ưu tiên quốc gia. Quan trọng hơn, cần duy trì tính ổn định của nguồn đầu tư này, tránh tình trạng tăng giảm theo từng giai đoạn ngắn hạn.

Bài học thứ hai là phải chấp nhận độ trễ của khoa học

Trong môi trường quản lý công, áp lực nhìn thấy kết quả nhanh là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, lịch sử phát triển khoa học cho thấy khoảng cách giữa một khám phá cơ bản và ứng dụng thương mại có thể kéo dài hàng chục năm.

“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy phát triển công nghệ chiến lược đòi hỏi đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản, xây dựng đại học nghiên cứu xuất sắc, phát triển doanh nghiệp công nghệ và hình thành một hệ sinh thái nơi tri thức được lưu thông, nhà khoa học được khuyến khích sáng tạo và doanh nghiệp có thể nhanh chóng chuyển hóa nghiên cứu thành sản phẩm”

GS.TS Chử Đức Trình
Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN

Điều này đòi hỏi cách tiếp cận khác trong xây dựng chính sách khoa học. Thay vì chỉ đánh giá thành công bằng số lượng sản phẩm thương mại hóa trong ngắn hạn, nhiều nước chú trọng xây dựng năng lực nghiên cứu, đào tạo nhân lực và tạo ra tri thức mới.

Việt Nam cần xây dựng cơ chế đánh giá khoa học phù hợp với đặc thù của nghiên cứu cơ bản. Không phải mọi đề tài đều có thể nhanh chóng chuyển thành sản phẩm hay doanh thu. Thay vì chỉ chú trọng các chỉ tiêu ngắn hạn, cần tạo điều kiện để các nhà khoa học theo đuổi những hướng nghiên cứu dài hơi, có tiềm năng tạo ra tri thức mới.

Giảng viên Khoa công nghệ điện tử, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm IoT and AI. Ảnh minh họa: Thanh Vũ/TTXVN

Giảng viên Khoa công nghệ điện tử, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm IoT and AI. Ảnh minh họa: Thanh Vũ/TTXVN

Bài học thứ ba là không thể có công nghệ lõi nếu thiếu các đại học nghiên cứu mạnh.

Một điểm chung dễ nhận thấy ở Mỹ, Trung Quốc hay Hàn Quốc là vai trò trung tâm của các trường đại học và viện nghiên cứu. Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) hay Đại học Thanh Hoa không chỉ đào tạo nhân lực mà còn là nơi sản sinh những ý tưởng khoa học mới.

“Qua các báo cáo và thực tiễn cho thấy, hạn chế hiện nay không chỉ nằm ở nguồn lực đầu tư, mà quan trọng hơn là chưa hình thành được một hệ sinh thái nghiên cứu có chiều sâu, có tích lũy và có khả năng tạo ra tri thức mới một cách bền vững”

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) nhiều lần nhấn mạnh rằng các trường đại học nghiên cứu là mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đây là nơi kết nối giữa khoa học cơ bản, đào tạo nhân tài và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp.

Đây cũng là điều được GS.TS Chử Đức Trình,Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN chỉ ra: “Những hệ sinh thái công nghệ thành công nhất đều được xây dựng quanh các đại học nghiên cứu mạnh. Thung lũng Silicon không bắt đầu từ các khu công nghiệp mà từ Stanford và Viện Đại học California, Berkeley. Chính các trường đại học này đã tạo ra tri thức mới, công nghệ nền tảng và những doanh nghiệp làm thay đổi thế giới”.

Sinh viên ngành Kỹ thuật năng lượng Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội thực hành trong phòng thí nghiệm

Sinh viên ngành Kỹ thuật năng lượng Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội thực hành trong phòng thí nghiệm

Việt Nam cần tiếp tục đầu tư xây dựng các đại học nghiên cứu và viện nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế trong một số lĩnh vực trọng điểm. Mục tiêu không chỉ là đào tạo nhân lực chất lượng cao mà còn hình thành các trung tâm sản sinh tri thức mới. Những lĩnh vực như toán học, vật lý, khoa học máy tính, vật liệu, hóa học hay công nghệ sinh học cần được phát triển đồng bộ để tạo nền tảng cho các ngành công nghệ chiến lược trong tương lai.

Bài học thứ tư là đầu tư cho con người quan trọng không kém đầu tư cho cơ sở vật chất

Các phòng thí nghiệm hiện đại hay thiết bị đắt tiền chỉ phát huy hiệu quả khi có đội ngũ nhà khoa học xuất sắc vận hành và khai thác. Mỹ thu hút nhân tài toàn cầu thông qua hệ thống đại học hàng đầu. Trung Quốc triển khai nhiều chương trình thu hút chuyên gia quốc tế và nhà khoa học hồi hương. Hàn Quốc đầu tư mạnh cho đào tạo tiến sĩ và xây dựng môi trường nghiên cứu cạnh tranh.

“Muốn làm chủ công nghệ, trước hết phải làm chủ tri thức. Muốn xây dựng năng lực công nghệ quốc gia phải có khoa học cơ bản mạnh. Muốn có những đột phá công nghệ phải bắt đầu từ nghiên cứu cơ bản và từ việc phát hiện, nuôi dưỡng những tài năng trẻ”

GS.TS Chử Đức Trình
Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN

Theo UNESCO, nguồn nhân lực nghiên cứu là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh năng lực khoa học của quốc gia. Những nước thành công thường theo đuổi chiến lược dài hạn trong đào tạo và thu hút nhân tài, thay vì chỉ tập trung vào cơ sở hạ tầng.

Vì vậy, Việt Nam cần có chính sách mạnh mẽ hơn để thu hút, trọng dụng và giữ chân đội ngũ nhà khoa học tài năng. Bên cạnh việc đào tạo thế hệ nghiên cứu trẻ, cần tạo môi trường học tập thuận lợi, giảm bớt các rào cản hành chính trong nghiên cứu, đồng thời mở rộng cơ hội hợp tác quốc tế. Đầu tư cho con người luôn là khoản đầu tư có hiệu quả lâu dài nhất đối với khoa học và công nghệ.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026 quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026 quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược

Bài học cuối cùng, và có lẽ quan trọng nhất, là khoa học cơ bản không đối lập với phát triển kinh tế.

Trong nhiều năm, không ít người cho rằng các nước đang phát triển nên ưu tiên những lĩnh vực mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp thay vì đầu tư cho nghiên cứu nền tảng. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy những quốc gia vươn lên nhóm dẫn đầu công nghệ đều phải xây dựng năng lực khoa học riêng.

Nếu muốn tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu thay vì chỉ dừng ở khâu gia công và lắp ráp, Việt Nam cần từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu và sáng tạo tri thức của chính mình.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học-Công nghệ Việt Nam. Ảnh minh họa: vast.gov.vn.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học-Công nghệ Việt Nam. Ảnh minh họa: vast.gov.vn.

Ngày nay, thế giới đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới xoay quanh AI, bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học và năng lượng sạch. Điểm chung của tất cả các lĩnh vực này là đều dựa trên nền tảng khoa học cơ bản rất sâu.

Đó cũng là lý do nhiều quốc gia, kể cả những nền kinh tế phát triển hàng đầu, đang tăng đầu tư cho nghiên cứu nền tảng thay vì cắt giảm. Theo OECD, khoa học cơ bản ngày càng được xem là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn trong nền kinh tế tri thức.

Mục tiêu trở thành quốc gia có năng lực đổi mới sáng tạo cao không thể chỉ dựa vào việc tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài. Trong một thế giới mà công nghệ ngày càng trở thành yếu tố quyết định sức mạnh quốc gia, khả năng tạo ra tri thức mới sẽ ngày càng quan trọng.

Con đường đó chắc chắn không dễ dàng và không thể mang lại kết quả ngay lập tức. Nhưng kinh nghiệm từ Mỹ, Trung Quốc và Hàn Quốc cho thấy một thực tế rõ ràng: không có quốc gia nào trở thành cường quốc công nghệ nếu bỏ qua khoa học cơ bản.

Những phòng thí nghiệm hôm nay có thể chưa tạo ra doanh thu, chưa làm thay đổi tăng trưởng kinh tế trong năm tới. Nhưng chính ở đó có thể đang hình thành những công nghệ sẽ quyết định vị thế của một quốc gia trong vài thập niên tới.

Hồng Nhung

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/suc-manh-quoc-gia-tu-phong-thi-nghiem-bai-cuoi-viet-nam-co-the-tham-khao-gi-tu-the-gioi-10423816.html