Sụt lún, sạt lở ở ĐBSCL: Phòng chống hiệu quả thay cho 'vá víu' bờ sông
Sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không còn là câu chuyện của riêng thiên nhiên. Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, chuyên gia kinh tế vùng ĐBSCL, phân tích nguyên nhân cốt lõi và những giải pháp căn cơ để bảo vệ tương lai của đồng bằng.

Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, chuyên gia kinh tế vùng ĐBSCL.
PV: Trong bối cảnh Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 166/NQ-CP ngày 26/6/2026 về Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị liên quan đến phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn tại ĐBSCL giai đoạn 2026-2035, xin ông phân tích rõ hơn về những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng sạt lở hiện nay trong khu vực ĐBSCL?
Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp: Có thể nói, sạt lở ở ĐBSCL hiện nay không còn là một hiện tượng riêng lẻ mà là hệ quả của sự cộng hưởng nhiều tác động tự nhiên và con người trong suốt nhiều thập niên. Nếu trước đây, người dân chỉ xem sạt lở là hiện tượng xảy ra cục bộ ven sông, ven biển thì nay nó đã trở thành một thách thức trong phát triển của các địa phương và toàn vùng.
Nguyên nhân đầu tiên là sự suy giảm nghiêm trọng nguồn bùn cát từ thượng nguồn sông Mekong. Hệ thống các hồ chứa thủy điện đã giữ lại phần lớn lượng phù sa và bùn cát vốn là "nguồn vật liệu" tự nhiên để bồi đắp đồng bằng. Khi lượng bùn cát giảm mạnh, trong khi dòng chảy vẫn tiếp tục vận động, các con sông buộc phải lấy vật liệu từ chính lòng và bờ sông, làm gia tăng sạt lở.
Thứ hai là tình trạng khai thác nước ngầm quá mức, khiến nền đất đồng bằng bị sụt lún với tốc độ nhanh hơn mực nước biển dâng ở nhiều nơi. Khi nền đất lún xuống, kết cấu địa chất trở nên yếu hơn, khả năng chịu tải giảm, chỉ cần tác động của dòng chảy hoặc tải trọng công trình cũng có thể dẫn đến sạt lở.
Thứ ba là khai thác cát lòng sông vượt quá khả năng phục hồi tự nhiên. Dù thời gian qua đã được kiểm soát chặt hơn, nhưng đây vẫn là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm thay đổi địa hình lòng dẫn, tạo hố sâu, thay đổi hướng dòng chảy và gây mất ổn định bờ sông.

Sụt lún, sạt lở ở ĐBSCL.
Ngoài ra còn có những nguyên nhân từ quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng thiếu thích ứng. Nhiều khu dân cư, tuyến giao thông, công trình được xây dựng sát mép sông, gia tăng tải trọng lên nền đất yếu, làm giảm không gian thoát lũ và phá vỡ trạng thái cân bằng tự nhiên của dòng chảy.
Quan trọng hơn cả, cần nhìn nhận sạt lở trong mối quan hệ với biến đổi khí hậu. Hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng, các hiện tượng thời tiết cực đoan đang làm gia tăng tính bất định của hệ thống thủy văn. Vì vậy, chống sạt lở không thể chỉ xử lý từng điểm sạt lở mà phải tiếp cận trên quy mô toàn lưu vực và toàn vùng.
PV: Thưa ông, đâu là những giải pháp mang tính căn cơ, bền vững cần được ưu tiên triển khai để kiểm soát hiệu quả tình trạng này trong thời gian tới?
Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp: Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải chuyển từ tư duy "chống sạt lở" sang tư duy “quản trị rủi ro và thích ứng với đồng bằng đang biến đổi”.
Trước hết, cần kiểm soát chặt việc khai thác nước ngầm, đồng thời đầu tư mạnh vào các hệ thống cấp nước mặt tập trung để từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn nước dưới đất. Đây là giải pháp có ý nghĩa lâu dài nhằm hạn chế sụt lún nền đất.
Thứ hai, tiếp tục siết chặt quản lý khai thác cát, đẩy mạnh sử dụng cát biển đã qua xử lý, cát nghiền và các vật liệu thay thế trong xây dựng nhằm giảm áp lực lên lòng sông.
Thứ ba, cần quy hoạch lại không gian dân cư ven sông theo hướng thích ứng. Không phải nơi nào cũng có thể hoặc nên xây kè. Có những khu vực cần chủ động di dời dân cư, tạo hành lang bảo vệ sông, trả lại không gian cho dòng chảy. Đây là giải pháp khó nhưng bền vững hơn nhiều so với việc chỉ tập trung xây dựng các công trình cứng.

Theo chuyên gia cần quy hoạch lại dân cư ven sông theo hướng thích ứng; không phải nơi nào cũng nên xây kè, có khu vực phải di dời, tạo hành lang bảo vệ dòng chảy để đảm bảo bền vững lâu dài.
Một giải pháp rất quan trọng là phục hồi hệ sinh thái tự nhiên. Rừng ngập mặn ven biển, các bãi bồi, vùng trữ nước, vùng đất ngập nước chính là "hạ tầng xanh" có khả năng giảm sóng, giảm xói lở và thích ứng với biến đổi khí hậu với chi phí thấp hơn về lâu dài.
Song song đó là xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo sớm bằng công nghệ số, viễn thám, trí tuệ nhân tạo để theo dõi diễn biến sụt lún, sạt lở theo thời gian thực, giúp chính quyền chủ động ứng phó thay vì xử lý khi sự cố đã xảy ra.
Đặc biệt, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý lưu vực sông Mekong. ĐBSCL chịu tác động từ toàn bộ lưu vực nên nhiều vấn đề không thể giải quyết chỉ bằng nỗ lực của riêng Việt Nam.
PV: Riêng đối với các nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 166/NQ-CP của Chính phủ như quản lý chặt hoạt động xây dựng nhà ở, khai thác cát lòng sông, cũng như định hướng đầu tư các dự án phòng, chống theo hướng tổng thể, liên vùng và đa mục tiêu, ông đánh giá như thế nào về tính khả thi và hiệu quả dự kiến của Chương trình hành động trong việc kiểm soát sạt lở tại ĐBSCL?
Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp: Tôi cho rằng Nghị quyết số 166/NQ-CP có ý nghĩa rất quan trọng bởi đây không chỉ là một chương trình xử lý các điểm sạt lở mà là một chương trình hành động nhằm nâng cao khả năng chống chịu của toàn vùng ĐBSCL.
Điểm đáng chú ý là Nghị quyết đã chuyển mạnh từ cách tiếp cận theo từng địa phương sang tiếp cận “liên ngành, liên vùng và đa mục tiêu”. Điều này phù hợp với thực tế bởi dòng chảy không có ranh giới hành chính; một hoạt động khai thác cát hoặc một công trình ở địa phương này hoàn toàn có thể tác động đến địa phương khác.
Việc quản lý chặt xây dựng nhà ở ven sông, kiểm soát khai thác cát, quy hoạch lại dân cư, đầu tư các dự án thích ứng đồng thời phục vụ giao thông, thủy lợi, cấp nước, bảo vệ môi trường sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư công, tránh tình trạng đầu tư manh mún và xử lý bị động như trước đây.
Tuy nhiên, hiệu quả của Nghị quyết sẽ phụ thuộc rất lớn vào khâu tổ chức thực hiện. Cần có cơ chế điều phối vùng đủ mạnh, cơ sở dữ liệu thống nhất, phân công rõ trách nhiệm giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương. Đồng thời phải huy động được nguồn lực xã hội, doanh nghiệp và người dân cùng tham gia.
Một yếu tố rất quan trọng là phải thay đổi tư duy phát triển. ĐBSCL không thể tiếp tục phát triển bằng mọi giá mà phải phát triển trên nền tảng tôn trọng quy luật tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng tài nguyên một cách tiết kiệm, hiệu quả.
Nếu triển khai đồng bộ, quyết liệt và có sự giám sát chặt chẽ, Nghị quyết số 166/NQ-CP không chỉ góp phần giảm thiểu sạt lở, sụt lún, hạn hán và xâm nhập mặn mà còn tạo nền tảng để ĐBSCL chuyển sang mô hình phát triển bền vững, an toàn và có khả năng chống chịu cao hơn trước những biến động ngày càng lớn của khí hậu và nguồn nước trong tương lai.
Hải Dương (thực hiện)





![[Video] Kiên quyết không sử dụng văn bản giấy đối với các quy trình đã được điện tử hóa](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_07_09_14_55582422/a1c15c060e4de713be5c.jpg)





![[Video] Truy điệu, an táng 235 hài cốt liệt sỹ tại tỉnh An Giang](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_07_09_14_55582484/6cb89378c133286d7122.jpg)