Tái cấu trúc chương trình khoa học quốc gia, tập trung nguồn lực cho bài toán lớn

Các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia sẽ được tổ chức thành 6 nhóm, kết nối từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng và thương mại hóa. Việc tái cấu trúc nhằm khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, tránh trùng lặp, tập trung nguồn lực làm chủ công nghệ chiến lược và nâng cao hiệu quả đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Ảnh minh họa: Sở Khoa học và Công nghệ Hồ Chí Minh

Ảnh minh họa: Sở Khoa học và Công nghệ Hồ Chí Minh

Sáu nhóm chương trình, kết nối từ nghiên cứu đến thương mại hóa

Nguồn lực nghiên cứu cần tập trung vào những nhiệm vụ nào? Làm thế nào để kết quả từ viện nghiên cứu, trường đại học tiếp tục được hoàn thiện, chuyển giao và đưa vào sản xuất? Đây là những vấn đề được đặt ra trong Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035”, vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Theo Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 8/10/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) được giao làm đầu mối triển khai Đề án. Các chương trình quốc gia còn hiệu lực sẽ được rà soát, đồng thời cập nhật chương trình mới nhằm bảo đảm thống nhất về mục tiêu, nội dung, sản phẩm và nguồn lực, hạn chế đầu tư chồng chéo.

Việc tái cấu trúc hướng tới tăng tính liên thông giữa các chương trình, tập trung giải quyết những bài toán lớn của đất nước, phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, đồng thời nâng cao khả năng ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Theo Đề án, các chương trình thuộc phạm vi điều chỉnh được tổ chức thành 6 nhóm: Phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; nghiên cứu cơ bản; trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo quốc gia; quốc gia đặc biệt; chuyển đổi số quốc gia.

Mỗi nhóm đảm nhận một chức năng riêng, nhưng được định hướng kết nối với các nhóm còn lại, hình thành chuỗi hoạt động từ phát triển nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu, tạo lập tri thức đến phát triển công nghệ, ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm.

Trong đó, nhóm phát triển tiềm lực tập trung xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển tổ chức và nhóm nghiên cứu mạnh, nâng cấp cơ sở vật chất, hạ tầng và dữ liệu phục vụ nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu cơ bản hướng tới tạo ra tri thức mới, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách, đồng thời đặt nền tảng cho phát triển công nghệ lõi và công nghệ chiến lược.

Nhóm trọng điểm quốc gia tập trung giải quyết những bài toán lớn, liên ngành, liên lĩnh vực về kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia, văn hóa, con người, quốc phòng và an ninh. Trong khi đó, nhóm đổi mới sáng tạo quốc gia hỗ trợ hoàn thiện, kiểm chứng, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển thị trường khoa học, công nghệ.

Nhóm quốc gia đặc biệt hướng tới các mục tiêu quy mô lớn, công nghệ và sản phẩm chiến lược, áp dụng cơ chế đặc thù theo quy định pháp luật. Nhóm chuyển đổi số quốc gia thúc đẩy phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số theo các chiến lược, chương trình quốc gia.

Đáng chú ý, việc tổ chức thành 6 nhóm không làm phát sinh loại hình chương trình, cấp quản lý trung gian, hồ sơ hay thủ tục hành chính mới; đồng thời không thay đổi thẩm quyền đã được pháp luật quy định.

Các chương trình phải xác định rõ mục tiêu, nội dung, sản phẩm đầu ra, chỉ tiêu đánh giá và nguồn lực thực hiện. Trên cơ sở rà soát, cơ quan có thẩm quyền xem xét tiếp tục, điều chỉnh, tích hợp, thay thế hoặc kết thúc chương trình, qua đó hạn chế đầu tư dàn trải và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.

Đến năm 2030, doanh nghiệp tham gia ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng

Một định hướng xuyên suốt của Đề án là lấy nhu cầu thị trường và thực tiễn phát triển làm cơ sở định hướng nghiên cứu, đặt doanh nghiệp ở vị trí trung tâm trong ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa.

Doanh nghiệp được khuyến khích tham gia ngay từ khâu đề xuất bài toán, đặt hàng, tài trợ, đồng tài trợ đến chủ trì hoặc phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò nòng cốt trong tạo lập tri thức, phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Cách tiếp cận này hướng tới tăng cường liên kết giữa nghiên cứu và sản xuất, từng bước khắc phục tình trạng kết quả nghiên cứu chưa được hoàn thiện, chuyển giao hoặc khai thác hiệu quả trong thực tiễn.

Các chỉ tiêu được đặt ra theo lộ trình cụ thể. Giai đoạn 2026-2030, tối thiểu 50% nhiệm vụ đặt hàng do doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện; vốn đối ứng của doanh nghiệp đạt tối thiểu 40% tổng kinh phí của các nhiệm vụ này. Sang giai đoạn 2031-2035, các tỷ lệ tương ứng tăng lên tối thiểu 60% và 50%.

Cùng với việc huy động doanh nghiệp tham gia, Đề án chú trọng hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp nhận, làm chủ, cải tiến, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, góp phần nâng năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Đối với kết quả nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng, các hoạt động hỗ trợ sẽ tập trung vào hoàn thiện công nghệ, đánh giá mức độ sẵn sàng, xác lập, bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Các yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, truy xuất nguồn gốc và đánh giá sự phù hợp cũng được chú trọng nhằm tạo điều kiện để sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn và tiếp cận thị trường.

Đặc biệt, kết quả nghiên cứu không chỉ được đánh giá tại thời điểm nghiệm thu mà còn tiếp tục được theo dõi sau khi nhiệm vụ kết thúc. Những kết quả có tiềm năng sẽ được lựa chọn để xem xét hỗ trợ hoàn thiện, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa.

Đề án đồng thời định hướng phát triển các tổ chức trung gian, nền tảng kết nối cung - cầu và giao dịch công nghệ, tạo điều kiện kết nối bên sở hữu công nghệ với bên có nhu cầu sử dụng. Qua đó, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ và thị trường.

Hướng tới sản phẩm chiến lược có sức cạnh tranh quốc tế

Tái cấu trúc các chương trình không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý mà còn hướng tới những kết quả cụ thể về năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ và phát triển sản phẩm chiến lược.

Trong giai đoạn 2026-2030, Đề án đặt mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực; hoàn thiện tối thiểu 20 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược.

Cùng giai đoạn, mục tiêu là phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó ít nhất 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Giai đoạn 2031-2035, các mục tiêu tiếp tục được nâng lên. Số nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn quốc tế phấn đấu đạt lũy kế tối thiểu 50 nhóm, bao gồm duy trì và nâng cấp các nhóm đã hình thành trong giai đoạn trước.

Đề án hướng tới hoàn thiện và thương mại hóa ở quy mô công nghiệp lũy kế tối thiểu 50 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược có sức cạnh tranh quốc tế. Số doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược đạt tối thiểu 30 doanh nghiệp, trong đó ít nhất 10 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Chất lượng nghiên cứu cũng được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu đầu ra. Giai đoạn 2026-2030, tối thiểu 40% nhiệm vụ có kết quả được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hoặc có công bố quốc tế uy tín thuộc danh mục Web of Science (WoS)/Scopus. Tỷ lệ này tăng lên tối thiểu 50% trong giai đoạn 2031-2035.

Đối với khởi nghiệp sáng tạo, mục tiêu là thành lập tối thiểu 250 doanh nghiệp trong giai đoạn đầu và tối thiểu 500 doanh nghiệp trong giai đoạn sau. Các doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ.

Để hiện thực hóa mục tiêu, các hoạt động hỗ trợ tập trung vào thử nghiệm, ứng dụng, nhân rộng sản phẩm, dịch vụ, giải pháp; hoàn thiện quy trình và phát triển sản phẩm mẫu đưa vào sản xuất. Nguồn vốn đầu tư thu hút cho khởi nghiệp sáng tạo trong hai giai đoạn lần lượt đạt tối thiểu bằng 100% và 120% tổng kinh phí ngân sách nhà nước đã cấp để thực hiện Chương trình quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo.

Những mục tiêu này cho thấy định hướng chuyển từ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có khả năng tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp và giá trị kinh tế thực chất.

Quản lý theo kết quả, đánh giá bằng tác động thực tế

Để bảo đảm các chương trình vận hành hiệu quả, Đề án định hướng đổi mới phương thức quản lý theo mục tiêu, kết quả, hiệu quả và tác động thực tế; tăng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, đồng thời chấp nhận rủi ro có kiểm soát phù hợp với đặc thù hoạt động nghiên cứu khoa học.

Một trong những mục tiêu quan trọng là 100% chương trình thuộc phạm vi Đề án được theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và hiệu quả trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Khung đánh giá được xây dựng theo chuỗi Đầu vào -Đầu ra - Hiệu quả - Tác động, kết hợp với các chỉ số chuyên ngành phù hợp. Kết quả đánh giá sẽ là căn cứ để điều chỉnh mục tiêu, nội dung, phân bổ nguồn lực và xem xét việc tiếp tục, điều chỉnh, hợp nhất hoặc kết thúc chương trình theo thẩm quyền.

Về nguồn lực, ngân sách nhà nước được bố trí căn cứ khả năng cân đối, có trọng tâm, phù hợp với mục tiêu, mức độ ưu tiên và khả năng tạo tác động của từng chương trình. Đề án đồng thời khuyến khích huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, hợp tác quốc tế và các nguồn hợp pháp khác.

Trong năm 2026, Bộ KH&CN có trách nhiệm rà soát, tổ chức lại các chương trình thuộc thẩm quyền Bộ trưởng và các chương trình được Thủ tướng Chính phủ giao quản lý theo khung 6 nhóm; xây dựng, quản lý, vận hành nền tảng số, đồng thời kiện toàn cơ chế tư vấn, điều phối chuyên môn.

Trong quý I/2027, Bộ KH&CN được giao xây dựng, hướng dẫn áp dụng tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá phù hợp với từng nhóm chương trình. Việc đánh giá giữa kỳ Đề án được thực hiện vào năm 2030 và tổng kết vào năm 2035.

Các bộ, cơ quan trung ương chủ động rà soát chương trình thuộc phạm vi quản lý; địa phương phối hợp xác định nhu cầu, đề xuất nhiệm vụ, tổ chức ứng dụng và nhân rộng kết quả.

Quyết định số 1951/QĐ-TTg có hiệu lực kể từ ngày ký, không áp dụng đối với các chương trình quốc gia do Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặt hàng.

Uyên Na

Nguồn Doanh nhân & Pháp luật: https://doanhnhan.baophapluat.vn/tai-cau-truc-chuong-trinh-khoa-hoc-quoc-gia-tap-trung-nguon-luc-cho-bai-toan-lon.html