Tái chế rác thải bao giờ chấm dứt việc đốt bỏ 'mỏ vàng' tài nguyên dệt may?
Vải vụn ở xưởng may hay quần áo cũ bỏ đi được thu gom, tái chế và xuất hiện trở lại trong các mặt hàng thời trang. Lượng rác thải dệt may hơn 2 triệu tấn đang là nguồn nguyên liệu mới và dồi dào trong bối cảnh ngành còn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nước ngoài.

Ngành công nghiệp tái chế rác thải dệt may tại Việt Nam trở nên sôi động hơn, thu hút các gã khổng lồ của dệt may, thời trang toàn cầu và nhiều doanh nghiệp trong nước.
“Tái chế xuống cấp” đang ở mức cao
Người tiêu dùng sẽ không hào hứng bỏ tiền mua, nếu biết món đồ mình mua có giá cao, nhưng làm từ sợi tái chế. Nhưng nếu sản phẩm bằng sợi tái chế mà lại mềm mịn như sợi mới và giá chỉ phân nửa thì khả năng người tiêu dùng chọn mua sẽ cao hơn.
“Sản phẩm Corèle đã đạt được điều đó, ngay tại Việt Nam”, theo lời ông Cao Quốc Khánh, Giám đốc vận hành (COO) của Corèle - hãng đồ lót, đồ bơi và đồ thể thao thuộc tập đoàn B’Lao - Scavi - Corèle của Pháp.
Đó là “tái chế ngang cấp”, tức từ sợi sang sợi và dệt may sang dệt may, và hiện tỷ lệ ngang cấp tại Việt Nam khoảng 12-18%, ông Khánh giải thích.

Ông Nguyễn Tuấn Nghĩa - nhà sáng lập kiêm CEO của Reshare - một đơn vị có thể xử lý trọn vòng tuần hoàn của rác thải dệt may. Ảnh: REshare
Có khoảng 7.000 doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam. Theo kháo sát của Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) công bố năm 2025, chỉ riêng mảng FDI hàng năm tạo ra khoảng 250.000 tấn vải vụn trong các khâu cắt may, chưa kể lượng thải ra từ các cơ sở dệt may và ngành giày dép trong nước.
Khoảng 60% lượng vải này được “tái chế xuống cấp” thành các vật ít giá trị như giẻ lau, đồ nhấc nồi, găng tay, vật liệu cho thú nhồi bông hay sofa… 40% lượng rác này sẽ ra bãi rác hay vào lò đốt để tạo nhiệt lượng(1).
Chưa có thống kê chính thức về lượng rác thải từ doanh nghiệp dệt may nội địa và khối lượng quần áo cũ thải ra hàng năm. Các tổ chức thu gom và tái chế rác thải dệt may ước tính ngành dệt may, thời trang tạo ra khoảng 2 triệu tấn rác thải mỗi năm. Như vậy, về tổng quan, tỷ lệ tái chế và đốt bỏ trên thực tế sẽ cao hơn.
Tỷ lệ tái chế ngang cấp 12-18% như ông Cao Quốc Khánh nói là đáng khích lệ. Riêng tỷ lệ “tái chế nâng cấp” hiện rất thấp với một số ít đơn vị sử dụng vải vụn, quần áo cũ với số lượng hạn chế để may túi xách hay các vật dụng có giá trị cao hơn.
Việt Nam đã có nền dệt may tuần hoàn?
Hàng năm Việt Nam nhập khoảng 20 tỉ đô la nguyên vật liệu dệt may, gồm cả nguồn tái chế, theo Tổng cục Hải quan Việt Nam và Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS). Kinh tế tuần hoàn của dệt may Việt Nam yếu nhất ở khâu thu gom và phân loại, còn các khâu kéo sợi, dệt và may hoàn tất là tốt, theo đánh giá của GIZ.

Ngành dệt may - thời trang Việt Nam thải ra 2 triệu tấn rác thải mỗi năm, gồm vải vụn từ các nhà xưởng và quần áo cũ bỏ đi. Phần lớn lượng rác này được đưa ra bãi rác hay lò đốt. Ảnh: TLD Apparel
Có khoảng 200 cơ sở xử lý rác thải dệt may, gồm các đơn vị thu gom, tập trung, tiền xử lý và tái chế. Trong số này, 17 đơn vị tái chế, hầu hết xử lý vải từ sợi polyester, bông và polycotton (sợi pha giữa bông và polyester). Tuy nhiên, mạng lưới này rất phân tán và thiếu minh bạch, làm phức tạp quá trình truy xuất nguồn gốc chất thải và thẩm định.
Ngành dệt may, thời trang đang có nhiều chuyển biến tích cực trong tái chế. Tuy nhiên để xây dựng một hạ tầng tái chế bền vững và đủ sức đáp ứng các đòi hỏi về thiết kế sinh thái ESPR hoặc hộ chiếu sản phẩm số DPP của EU thì cần có sự chuyển dịch và đầu tư mạnh mẽ hơn, bà Phan Quỳnh Chi từ GIZ nhận định.
“Nếu không có khả năng tự tái chế và mức độ phụ thuộc vào nguyên vật liệu ngoại nhập cao như hiện nay, khả năng là chúng ta đang “nhập rác” từ nước ngoài để đáp ứng các đòi hỏi bền vững từ EU”, ông Cao Quốc Khánh nói với Kinh tế Sài Gòn.
Những đốm sáng
Dù ít ỏi, các đơn vị thu gom và tái chế rác thải dệt may đang là những đốm sáng rất triển vọng của ngành dệt may Việt Nam.
Vải vụn, sợi thừa từ các nhà máy hay cơ sở dệt may được xem là nguồn nguyên liệu “sạch”, được phân theo từng màu và rồi đưa vào khâu tách hay rã thành các loại sợi cotton hay polyester.
Tháng 8-2024, tập đoàn Recover của Tây Ban Nha nổi tiếng trong lĩnh vực tái chế dệt may khai trương công ty con tại Khu công nghiệp Nhơn Trạch II, Đồng Nai. RVN Fibers có vốn đăng ký đầu tư khoảng 20 triệu đô la, công suất tái chế 10.000 tấn xơ bông vải từ vải vụn mỗi năm.
Tập đoàn Tây Ban Nha sở hữu độc quyền công nghệ Rmix có khả năng xử lý và rã sợi trực tiếp các loại vải pha (polycotton) mà không cần quá trình phân sợi rất đắt, giúp giảm chi phí cho sợi tái chế. Tổng giám đốc Dozier Taylor tin rằng tái chế sợi là bước đi bắt buộc để các doanh nghiệp hay thương hiệu lớn đáp ứng các tiêu chuẩn xanh khắt khe trên toàn cầu.

Công ty Corèle và REshare tổ chức buổi thu gom đồng phục và quần áo cũ tại một trường tiểu học ở TPHCM. Ảnh: CQK
Nhưng “quả bom tấn” của ngành tái chế Việt Nam là siêu dự án trị giá 1 tỉ đô la của tập đoàn Syre tại tỉnh Gia Lai trong năm 2025. Là liên doanh giữa hãng thời trang H&M và quỹ đầu tư mạo hiểm Vargas Holding của Thụy Điển, Syre tập trung vào công nghệ tái chế hóa học, nghiền và phân rã quần áo về trạng thái phân tử để tái thành hạt PE có độ tinh khiết như PE mới.
Với quần áo cũ, các công đoạn phức tạp hơn, bởi có sự tham gia của nhiều đơn vị. Tại Việt Nam chưa có hệ thống thu gom, phân loại, tái sử dụng và tái chế xuyên suốt với quần áo cũ. REshare là một trong số rất ít doanh nghiệp xử lý trọn vòng tuần hoàn dệt may.
Ông Nguyễn Trung Nghĩa, nhà sáng lập kiêm CEO, nói rằng lượng rác thải thời trang tại Việt Nam rất lớn, ước tính tại REshare “cứ mỗi 10 tấn quần áo cũ thì khoảng 3-4 tấn không thể tiếp tục sử dụng hay tái chế” sau khi thu gom và phân loại.
Thành lập năm 2022, REshare là đơn vị đầu mối làm việc với Corèle. Hai đơn vị này phối hợp với trường học để tổ chức các sự kiện thu gom đồng phục và quần áo cũ. REshare có hơn 40 Trạm Xanh thu gom quần áo cũ trên cả nước, có điểm nhận hơn 1 tấn quần áo cũ mỗi ngày.
Các Trạm Xanh này đặt tại các cửa hàng của Decathlon, Biti’s hay Corèle hay khu chung cư, tòa nhà văn phòng. Sau thu gom, đồ cũ được phân thành loại có thể tái sử dụng bán với giá rẻ.
Đối tác Insee Ecocyle, Thái Lan sẽ đưa các món quá cũ vào lò đốt của các nhà máy xi măng hay sắt thép. Còn đối tác Tân Nam Trung sẽ nhận vải vụn để làm thảm, găng tay hay vật liệu nhồi bông.
“Xanh” kia cũng có ba bảy đường
Điểm nghẽn lớn của chính sách kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam hiện nay là thiếu sự tích hợp và đồng bộ giữa khung chính sách môi trường với các công cụ kinh tế như thuế, đầu tư và cấp phép, theo lời Tiến sĩ Trần Công Chính thuộc Khoa Kinh tế phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội. “Vì thế, động lực chuyển đổi sang mô hình tuần hoàn của doanh nghiệp còn hạn chế”, ông nói tại Saigontex 2026.
Người tiêu dùng và ngay cả doanh nghiệp thường nhầm lẫn giữa hai khái niệm chồng lấn: dệt may tuần hoàn và dệt may xanh có trách nhiệm. Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu của dệt may Việt Nam với thị phần 38-40%, thị trường này thường “thích nghe câu chuyện, chuộng lý lịch hơn là chuyện “luân hồi”, tức vòng tuần hoàn của sản phẩm” - như lời của CEO một công ty dệt may.
Chẳng hạn, các loại sợi làm từ bã cà phê hay các nguyên loại khác pha với sợi polyester từ chai nhựa được ưa chuộng hơn, hoặc về cách đối xử với người lao động. Tương tự là các thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Đông Nam Á. Trong khi đó, các tiêu chuẩn thiết kế sinh thái ESPR hay hộ chiếu số DPP của EU lại đòi hỏi “sự thuần” của sợi cotton hay polyester, và vòng đời của nguyên liệu.
Ông Trương Văn Cẩm, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký VITAS, nói về các đòi hỏi này là “xanh theo đòi hỏi của thị trường”. Nhanh quá thì doanh nghiệp đuối sức vì không theo kịp đòi hỏi kỹ thuật và đủ sức đầu tư lớn, mà chậm quá thì bị đối thủ cạnh tranh “xanh sớm hơn” giành mất hợp đồng.
Dệt may đang phải “móc hầu bao” nhập khẩu hơn 50% nguyên liệu mỗi năm, xanh và tuần hoàn chính là cuộc cách mạng đảo ngược nghịch lý đó. Chấm dứt đốt bỏ “mỏ vàng” tài nguyên là vũ khí cạnh tranh mới nhất của ngành trong bối cảnh mới.
Phân loại tái chế thời trang
Có hai hình thức tái chế nếu phân loại theo giai đoạn tiêu dùng.
1. Tái chế trước tiêu dùng (pre-consumer waste): Chỉ riêng mảng doanh nghiệp FDI thải ra khoảng 250.000 tấn mỗi năm, không có thống kê về lượng rác thải của doanh nghiệp trong nước. Đây là nguồn tài nguyên “sạch” và dễ xử lý, nhưng đích đến phần lớn là bãi rác hay lò đốt.
2. Tái chế sau tiêu dùng (post-consumer waste): Các công đoạn thu gom quần áo cũ, rồi tách màu từng loại, cắt bỏ nút, rồi phân loại sợi... hiện đang là “sân chơi” phần lớn cho các tập đoàn lớn của nước ngoài.
Hoạt động tái chế được phân làm ba cấp, theo giá trị của thành phẩm cuối. Đầu tiên là tái chế xuống cấp hay hạ cấp (downcycle), tái chế ngang cấp (recycle) tức tái chế từ sợi sang sợi, và cuối cùng là tái chế nâng cấp (upcycle) với các vật phẩm giá trị cao hơn.
(1) https://www.giz.de/de/downloads/giz2025-en-ecosystem-mapping.pdf











