Tái sinh hữu cơ: Xu hướng mới của quy hoạch đô thị và bài học cho Hà Nội

Từ Berlin, London, Seoul đến Thượng Hải, nhiều thành phố trên thế giới đều cho thấy quá trình tái thiết đô thị không chỉ là câu chuyện xây mới hay cải tạo hạ tầng. Khi Hà Nội bước vào chu kỳ chỉnh trang quy mô lớn, kinh nghiệm quốc tế gợi mở ba câu hỏi quan trọng về hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và gìn giữ bản sắc đô thị.

Nếu chỉ nhìn riêng Thượng Hải, người ta có thể cho rằng sự chuyển đổi từ "đại phẫu" sang "châm cứu" là hệ quả của những điều kiện đặc thù tại Trung Quốc. Nhưng khi đặt trong bối cảnh quốc tế, có thể thấy đây là một xu hướng có tính quy luật đã xuất hiện ở nhiều thành phố với những thể chế chính trị hoàn toàn khác nhau. Điều khác nhau không phải là bản chất của quá trình, mà là tốc độ nhận ra giới hạn và cách mỗi quốc gia điều chỉnh chính sách sau đó.

Ba trường hợp so sánh quốc tế

Berlin (Đức) - từ hiện đại hóa đến "đổi mới thận trọng": Trong thập niên 1960-1970, Tây Berlin lựa chọn tái thiết theo tư duy hiện đại chủ nghĩa: phá bỏ các khu phố cũ, xây dựng những khối nhà ở cao tầng và mở rộng hệ thống giao thông. Tuy nhiên, việc phá dỡ hàng loạt nhanh chóng vấp phải phản ứng mạnh của cư dân, đặc biệt tại quận Kreuzberg. Các phong trào bảo vệ khu phố và chiếm giữ nhà ở đã buộc giới quy hoạch phải nhìn nhận lại chính sách.

Kết quả là Triển lãm Kiến trúc Quốc tế IBA 1987 đưa ra khái niệm Behutsame Stadterneuerung (đổi mới đô thị thận trọng): cải tạo từng phần, giữ cư dân tại chỗ và coi cộng đồng là trung tâm của tái thiết (18). Nếu Jane Jacobs đặt nền móng lý luận cho việc bảo vệ đời sống khu phố, thì Berlin là một trong những nơi đầu tiên biến tư tưởng ấy thành chính sách đô thị ở quy mô lớn.

Từ cuối thập niên 1980, Berlin chuyển từ phá dỡ quy mô lớn sang mô hình "đổi mới thận trọng" (Behutsame Stadterneuerung), ưu tiên cải tạo từng phần, giữ cư dân tại chỗ và bảo tồn cấu trúc khu phố. Đây được xem là một trong những dấu mốc quan trọng của tư duy tái thiết đô thị hiện đại. Tòa nhà chung cư IBA sáu tầng tại số 16 đường Admiralstraße ở Kreuzberg. Ảnh: Freddy Schönfeld

Từ cuối thập niên 1980, Berlin chuyển từ phá dỡ quy mô lớn sang mô hình "đổi mới thận trọng" (Behutsame Stadterneuerung), ưu tiên cải tạo từng phần, giữ cư dân tại chỗ và bảo tồn cấu trúc khu phố. Đây được xem là một trong những dấu mốc quan trọng của tư duy tái thiết đô thị hiện đại. Tòa nhà chung cư IBA sáu tầng tại số 16 đường Admiralstraße ở Kreuzberg. Ảnh: Freddy Schönfeld

London Docklands (Anh) - thành công kinh tế và giới hạn của Growth Machine:Việc thành lập Đoàn Phát triển Khu Docklands Luân Đôn năm 1981 đã biến một khu cảng suy thoái thành trung tâm tài chính Canary Wharf. Trong vòng hai thập niên, hơn 24.000 căn nhà mới được xây dựng và hơn 100.000 việc làm mới được tạo ra (19).

Xét trên các chỉ tiêu kinh tế, đây là một trong những dự án tái phát triển thành công nhất châu Âu. Nhưng chính tại đây cũng xuất hiện nghịch lý mà Logan và Molotch từng mô tả: phần lớn việc làm mới không thuộc về cộng đồng lao động cảng truyền thống, trong khi giá đất và giá nhà tăng nhanh khiến nhiều cư dân gốc không còn khả năng tiếp tục sinh sống tại khu vực. Thành phố phát triển, nhưng cộng đồng từng tạo nên lịch sử của khu cảng lại dần biến mất (20).

Canary Wharf là biểu tượng của thành công kinh tế trong quá trình tái phát triển London Docklands. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh của giá đất và giá nhà cũng làm dấy lên những tranh luận về khả năng duy trì cộng đồng cư dân truyền thống tại khu vực này. Ảnh: NY Habitat

Canary Wharf là biểu tượng của thành công kinh tế trong quá trình tái phát triển London Docklands. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh của giá đất và giá nhà cũng làm dấy lên những tranh luận về khả năng duy trì cộng đồng cư dân truyền thống tại khu vực này. Ảnh: NY Habitat

Seoul (Hàn Quốc) - thành công của phục hồi đô thị và bài toán công bằng xã hội:Dự án phục hồi suối Thanh Khê (tương tự sông Tô Lịch ở Hà Nội) hoàn thành năm 2005, chuyển đổi một đoạn đường cao tốc thành không gian công cộng xanh dài 5,8 km, được xem là một trong những hình mẫu nổi bật của phục hồi đô thị trên thế giới (21). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cùng với những thành công về môi trường và không gian công cộng, dự án đã làm gia tăng giá thuê và gây áp lực lên một bộ phận tiểu thương truyền thống - hàng nghìn cửa hàng thủ công và dịch vụ nhỏ, vốn đã hình thành thành các cụm sinh thái kinh tế qua nhiều thập niên, bị đẩy ra khỏi khu vực (22).

Dự án phục hồi suối Thanh Khê đưa dòng nước trở lại trung tâm Seoul và trở thành hình mẫu quốc tế về cải tạo không gian công cộng. Tuy vậy, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng giá thuê tăng mạnh sau dự án đã tạo áp lực đáng kể đối với các hộ kinh doanh nhỏ. Ảnh: Wikipedia

Dự án phục hồi suối Thanh Khê đưa dòng nước trở lại trung tâm Seoul và trở thành hình mẫu quốc tế về cải tạo không gian công cộng. Tuy vậy, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng giá thuê tăng mạnh sau dự án đã tạo áp lực đáng kể đối với các hộ kinh doanh nhỏ. Ảnh: Wikipedia

Điều này cho thấy ngay cả một dự án được đánh giá cao cũng cần đi kèm các cơ chế bảo vệ sinh kế và cộng đồng cư dân hiện hữu. Một dự án có triết lý đúng vẫn có thể tạo ra bất bình đẳng nếu thiếu các cơ chế bảo vệ sinh kế.

Từ bài học Thượng Hải đến ba câu hỏi chính sách với Hà Nội

Điều đáng chú ý là Thượng Hải ngày nay không chỉ tiếp thu lý luận quốc tế mà còn đóng góp cho lý luận quy hoạch đô thị thế giới. Thông qua các nghiên cứu của nhiều giáo sư, viện sĩ và học giả tại Đại học Đồng Tế, University College London, Đại học Hồng Kông, tiêu biểu như Trịnh Thời Linh (Zheng Shiling), Ngô Phược Long (Wu Fulong), Hà Thâm Tĩnh (He Shenjing) cùng nhiều học giả khác, khái niệm "tái sinh hữu cơ" (Organic Renewal) dần được hoàn thiện như một hướng tiếp cận mang dấu ấn riêng của Trung Quốc.

Nếu Urban Growth Machine (cỗ máy tăng trưởng) giải thích động lực của quá trình tái phát triển, còn Urban Acupuncture tập trung vào phương pháp can thiệp, thì "tái sinh hữu cơ" bổ sung thêm một chiều kích quan trọng: sự kế thừa liên tục giữa không gian vật chất, cộng đồng cư trú và ký ức đô thị. Với thành tựu đó, Thượng Hải không đơn thuần là nơi áp dụng lý thuyết phương Tây, mà đang trở thành một trung tâm sản sinh tri thức mới về tái thiết đô thị trong bối cảnh châu Á.

Khác với Thượng Hải đầu thập niên 1990, Hà Nội bước vào giai đoạn chỉnh trang khi đã có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với kinh nghiệm quốc tế. Điều này tạo ra một lợi thế quan trọng. Hà Nội có thể học từ kinh nghiệm của người khác thay vì phải trả toàn bộ chi phí của quá trình thử nghiệm bằng chính nguồn lực và cộng đồng của mình.

Hà Nội đang bước vào giai đoạn chỉnh trang và tái thiết đô thị với quy mô lớn. Kinh nghiệm từ nhiều thành phố trên thế giới cho thấy, mỗi quyết định quy hoạch không chỉ tác động đến hạ tầng và kinh tế mà còn ảnh hưởng lâu dài tới cộng đồng cư trú, sinh kế và bản sắc đô thị. Ảnh: CTV

Hà Nội đang bước vào giai đoạn chỉnh trang và tái thiết đô thị với quy mô lớn. Kinh nghiệm từ nhiều thành phố trên thế giới cho thấy, mỗi quyết định quy hoạch không chỉ tác động đến hạ tầng và kinh tế mà còn ảnh hưởng lâu dài tới cộng đồng cư trú, sinh kế và bản sắc đô thị. Ảnh: CTV

Thứ nhất, liệu Hà Nội có thể tiếp cận ngay từ đầu theo hướng cải tạo có chọn lọc, giảm nhu cầu di dời quy mô lớn? Kinh nghiệm Thượng Hải cho thấy chuyển sớm sang mô hình này không chỉ giảm chi phí xã hội mà còn có thể tạo ra giá trị kinh tế bền vững hơn. Đây cũng là điểm gặp nhau giữa Jane Jacobs và các nghiên cứu của Hà Thâm Tĩnh về công bằng trong tái phát triển đô thị. Bởi khi mạng lưới xã hội bị phá vỡ, thành phố có thể giàu hơn nhưng chưa chắc đã đáng sống hơn.

Thứ hai, trong quá trình tái thiết, giá trị của cộng đồng cư trú, sinh kế và di sản định cư sẽ được lượng giá bằng phương pháp nào? Kinh nghiệm của Thượng Hải cho thấy giá trị lớn nhất của các khu Lý Lộng không chỉ nằm ở từng ngôi nhà Thạch Khố Môn mà ở toàn bộ cấu trúc cộng đồng được hình thành trong đó.

Quan điểm này cũng tương đồng với tư duy của Kevin Lynch, rằng bản sắc đô thị không được tạo nên bởi từng công trình riêng lẻ mà bởi khả năng con người nhận diện và gắn bó với toàn bộ cấu trúc không gian sống của mình.

Thứ ba, cơ chế nào để các nghiên cứu độc lập có thể tham gia phản biện và đồng hành cùng quá trình hoạch định chính sách? Tại Thượng Hải, gần hai thập niên nghiên cứu học thuật bền bỉ đã góp phần hình thành cơ sở lý luận cho sự chuyển đổi chính sách khi điều kiện chín muồi. Tại Berlin, chính sự phản đối của cư dân và giới kiến trúc sư đã dẫn đến IBA 1987 và sự ra đời của khái niệm "đổi mới thận trọng".

Trong cả hai trường hợp, tiếng nói phản biện không phải là trở ngại của phát triển, mà là điều kiện để phát triển đúng hướng.

Những công trình cũ được tháo dỡ để mở đường cho các dự án mới là một phần của quá trình phát triển đô thị. Điều quan trọng là làm thế nào để quá trình ấy đồng thời bảo đảm hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và tính liên tục của ký ức đô thị. Ảnh: CTV

Những công trình cũ được tháo dỡ để mở đường cho các dự án mới là một phần của quá trình phát triển đô thị. Điều quan trọng là làm thế nào để quá trình ấy đồng thời bảo đảm hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và tính liên tục của ký ức đô thị. Ảnh: CTV

Thay lời kết

Lịch sử quy hoạch đô thị hiếm khi phát triển theo đường thẳng. Từ Los Angeles đến London, từ Berlin đến Seoul và Thượng Hải, có thể nhận thấy một chu trình lặp lại: giai đoạn đầu dựa vào tăng trưởng và khai thác giá trị đất đai để thành phố nhanh chóng hiện đại hóa; tiếp theo là sự xuất hiện của những chi phí xã hội, văn hóa và môi trường ngày càng lớn; cuối cùng là sự chuyển dịch sang các mô hình coi trọng cộng đồng, bản sắc và tính bền vững.

Nếu Urban Growth Machine của Logan và Molotch giải thích vì sao các thành phố liên tục bị cuốn vào vòng xoáy tăng trưởng dựa trên đất đai, thì Jane Jacobs nhắc rằng nền tảng của đô thị là cộng đồng dân cư; Kevin Lynch nhấn mạnh vai trò của ký ức và khả năng nhận diện không gian trong việc hình thành bản sắc; Jaime Lerner chỉ ra giá trị của những can thiệp nhỏ nhưng đúng điểm; còn Rem Koolhaas cảnh báo rằng quá trình hiện đại hóa nếu chỉ chạy theo hiệu quả kinh tế có thể dẫn tới Generic City - những đô thị ngày càng hiện đại nhưng ngày càng giống nhau vì đánh mất bản sắc.

Thượng Hải đã lựa chọn điều chỉnh trước khi đi quá xa trên con đường ấy. Đóng góp lớn nhất của thành phố không nằm ở những tòa nhà chọc trời hay những dự án bất động sản nổi tiếng, mà ở việc chứng minh rằng một đô thị hoàn toàn có thể tiếp tục phát triển mà không nhất thiết phải hy sinh ký ức, cộng đồng và bản sắc của mình.

Những khu phố cũ của Hà Nội không chỉ là tập hợp của các công trình kiến trúc mà còn là nơi lưu giữ mạng lưới cộng đồng, sinh kế và ký ức đô thị được tích lũy qua nhiều thế hệ. Đây cũng là những giá trị ngày càng được các mô hình tái thiết đô thị trên thế giới coi trọng. Ảnh: Nguyễn Thế Sơn

Những khu phố cũ của Hà Nội không chỉ là tập hợp của các công trình kiến trúc mà còn là nơi lưu giữ mạng lưới cộng đồng, sinh kế và ký ức đô thị được tích lũy qua nhiều thế hệ. Đây cũng là những giá trị ngày càng được các mô hình tái thiết đô thị trên thế giới coi trọng. Ảnh: Nguyễn Thế Sơn

Qua loạt bài viết này, chúng tôi muốn gửi đến những người đang gánh vác trách nhiệm lịch sử đối với Hà Nội và tất cả những ai quan tâm đến công cuộc phát triển đô thị của đất nước một thông điệp: tư duy tái thiết đô thị của thế giới hôm nay đang chuyển từ mô hình phá dỡ quy mô lớn sang các cách tiếp cận coi trọng cộng đồng, bản sắc và tính bền vững.

Còn đối với Hà Nội, bài học quan trọng nhất có lẽ không phải là chọn nên "phá" hay nên "giữ", mà là mỗi quyết định quy hoạch cần được đánh giá đồng thời trên ba phương diện căn cốt: hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và tính liên tục của bản sắc đô thị. Chỉ khi ba mục tiêu đó được xem xét như những thành phần không thể tách rời, quá trình chỉnh trang đô thị mới thực sự trở thành một chiến lược phát triển sáng suốt và bền vững, thay vì chỉ là một chương trình xây dựng, dù quy mô có lớn đến đâu.

Trần Trung Chính

____________________

Chú thích nguồn:

Bernhardt, C. & Meissner, K. (2020).

Brainscape; RHS.

London Docklands Case Study

.

Butler, T. (2007).

arXiv (2022).

Land Use Policy

(2023).

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/tai-sinh-huu-co-xu-huong-moi-cua-quy-hoach-do-thi-va-bai-hoc-cho-ha-noi-53315.html