Tầm nhìn chiến lược và động lực phát triển Việt Nam phú cường
Lịch sử phát triển của nhân loại là lịch sử phát triển của tư tưởng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác quyết những đại sự đất nước, trong tầm nhìn 2050, tiếp tục đứng vững trên nền tảng tri thức - đạo lý - bản sắc dân tộc, Việt Nam kiến tạo tương lai với chủ nghĩa dân tộc chân chính hiện đại gắn với chủ nghĩa xã hội (CNXH) sáng tạo để phát triển đất nước phú cường.
TS. Nhị Lê - Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
Lịch sử phát triển của nhân loại là lịch sử phát triển của tư tưởng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác quyết những đại sự đất nước, trong tầm nhìn 2050, tiếp tục đứng vững trên nền tảng tri thức - đạo lý - bản sắc dân tộc, Việt Nam kiến tạo tương lai với chủ nghĩa dân tộc chân chính hiện đại gắn với chủ nghĩa xã hội (CNXH) sáng tạo để phát triển đất nước phú cường.

Toàn cảnh phiên khai mạc Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng Ảnh: TTXVN
Việt Nam phải là hiện thân của sự hòa quyện giữa truyền thống dân tộc và những nguyên lý phát triển tiến bộ, công bằng, dân chủ và văn minh của nhân loại. Đó là tư tưởng phát triển Việt Nam thế kỷ XXI.
Dân tộc - chủ thể sáng tạo lịch sử
Trên đường vươn tới phú cường, hiện đại hóa không chỉ là máy móc - công nghệ mà là hiện đại hóa tư duy và văn hóa dân tộc. Nói một cách hình ảnh, nó như một cuộc cách mạng mang tính nhân bản: hiện đại phải từ truyền thống, không đánh mất bản sắc; phát triển phải đi liền với nhân văn, lấy phẩm giá con người làm tiêu chuẩn cao nhất; và tiến bộ phải gắn với độc lập quốc gia, không bị cuốn vào “cơn gió” mô hình lai căng hay ngoại nhập.
Do đó, đoạn tuyệt tư duy xem dân tộc như một đối tượng quản lý mà là chủ thể sáng tạo lịch sử, đất nước vì tự mang trong nó năng lực tự đổi mới, tự bứt phá. Đó phải là triết lý cốt lõi của tư duy phát triển Việt Nam phú cường: dân tộc là nguồn lực chiến lược; con người Việt Nam là trụ cột của phát triển; văn hóa Việt Nam là hệ gene tinh thần để bước vào tương lai; trong đó, nhân tố con người giữ vị trí tối thượng.
Mặt khác, phát triển triết lý về quyền lực nhà nước hiện đại: “Liêm chính - phục vụ - kiến tạo”. Đó là quyền lực mang tinh thần thượng tôn pháp luật và đạo đức công vụ: quyền lực phải trong sạch, minh bạch, vì dân; Nhà nước phải là “đạo đức hóa quyền lực”, chứ không chỉ quản trị hành chính; xây dựng thể chế phải gắn với sự chuẩn hóa văn minh chính trị.
Việt Nam phú cường không chỉ là phát triển kinh tế mà là một trạng thái văn minh mới của dân tộc trên nền triết lý nhân văn - dân tộc - hiện đại; từ sử thi dân chủ - lịch sử - tương lai trên nền bản lĩnh dân tộc mang tầm nhìn thời đại. Nó đòi hỏi một tầm nhìn vượt khỏi sự hạn hẹp nhiệm kỳ; một định hướng tương lai học; và một tư duy siêu cấu trúc. Đây là một cuộc trường chinh vĩ đại, nơi dân tộc vừa vượt qua nghèo nàn, chống tụt hậu vừa đối đầu thách thức toàn cầu, chủ động hội nhập (WTO, CPTPP, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư, chuyển đổi số…) và cùng nhân loại làm chủ công cuộc kiến tạo thế giới phát triển. Sự phát triển của Việt Nam không chỉ là đích đến mà là một sứ mệnh lịch sử dân tộc, thuộc về thế hệ hôm nay và ngày mai đối với tương lai Việt Nam 2050 và xa hơn nữa.

Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ra mắt Đại hội
Đó phải là sự hội tụ, kết tinh, thể hiện và thước đo hệ giá trị quốc gia, nên phải được xây dựng và thực thi như hệ thống chuẩn mực định hình phẩm giá, tâm thế và danh dự dân tộc với sức mạnh và thực lực quốc gia một cách tổng thể, chứ không đơn thuần được xây nên riêng lẻ hoặc từ những sức mạnh kinh tế đem lại hay tốc độ tăng trưởng dù rất quan trọng, thậm chí đáng kinh ngạc nào đó; hoặc bằng chính trị, dù ổn định bao nhiêu, nhưng chưa mang tầm phát triển, khi thiếu tính hệ thống hoàn bị, phù hợp và thực tế.
Mục tiêu tiên quyết và sâu xa nhất là, sự giàu mạnh không chỉ đo bằng GDP, dù rất quan trọng mà bằng chỉ số phẩm giá quốc gia, sự hài hòa giữa phồn vinh vật chất với thịnh vượng văn hóa và nhân tính hoàn bị; tăng trưởng không thể là mục tiêu duy nhất, mà phải hướng tới phát triển con người một cách toàn vẹn về phẩm giá, danh dự và sự phát triển nhân văn, bền vững mang tầm nhân loại.
Tất cả kết tinh và tạo nên một hệ giá trị: dân tộc hùng mạnh - quốc gia giàu có - xã hội văn minh - con người tự chủ - tương lai tỏa sáng kết tinh trong một Việt Nam hùng cường vào giữa thế kỷ XXI; một quốc gia phát triển, văn minh, độc lập, bản lĩnh; và một dân tộc đứng trong hàng đầu châu Á, tiến bước cùng nhân loại.
Phát triển nền móng căn bản mang tầm cách mạng
Trong tầm nhìn 2050, một bước tiến trong thực tiễn, có giá trị hơn mọi lý thuyết tốt đẹp hay những triết lý cao siêu. Để hiện thực hóa chương trình hành động, tiếp tục phát triển:
Thứ nhất, xây dựng nền chính trị trí tuệ: Chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh là “ngọn lửa” soi đường cho thế kỷ XXI, vừa là tầm nhìn vừa mang tính triết lý, vừa mang tính chính sách, không vay mượn, không sao chép, hiện đại hóa nhưng không đánh mất căn cốt của CNXH Việt Nam. Đề cao học thuật, khuyến khích tranh luận, phản biện dân chủ, tự do sáng tạo ý tưởng; tránh tư duy giáo điều, rập khuôn; cổ vũ tầng lớp trí thức - lý luận đồng hành trong sự phát triển của dân tộc. Đồng thời, đề cao vai trò của lý luận chính trị - đạo đức - báo chí - truyền thông như những trụ cột tư tưởng kiến thiết tầm nhìn và hệ giá trị quốc gia.
Ở tầm chiến lược, xây dựng trường phái Việt Nam học phát triển với hệ tư tưởng hiện đại, rường cột là chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận 40 năm Đổi mới trên nền tảng văn hóa và đạo lý truyền thống dân tộc nhằm nâng tầm lý luận lãnh đạo, cầm quyền và năng lực hành động của Đảng lên tầm học thuyết mang tầm thời đại.
Đó là kết tinh trí tuệ và phẩm giá của quốc gia, của dân tộc, của thế giới mà Đảng thâu thái thể hiện bằng tư duy chính trị của mình trên cương vị dẫn dắt dân tộc, quyết định vận mệnh quốc gia trong thời đại. Đó cũng chính là nghệ thuật lấy thế tạo thời, “gieo hạt mùa giữa giông bão” và biến thời cơ thành lực lượng trong lãnh đạo, cầm quyền dẫn dắt dân tộc, phụng sự quốc gia của Đảng.

Đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Thứ hai, cách mạng tư duy và tri thức hóa xã hội: Nhân dân là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển quốc gia. Con người làm trung tâm, văn hóa, môi trường sinh thái công vụ, công lý và công nghệ làm nền tảng. Phát triển toàn diện các trụ cột: kinh tế tri thức - công nghệ; văn hóa làm nền; chính trị ổn định, dân chủ; quản trị xã hội nhân văn - hiện đại. Tiên phong đổi mới tư duy về quản trị nhà nước, quản trị phát triển và kiểm soát quyền lực; về chuyển từ tăng trưởng theo lượng sang phát triển theo chất, giữa tăng trưởng và phát triển, giữa kinh tế với môi trường sinh thái tự nhiên; về tăng cường vai trò của công dân - tổ chức xã hội - doanh nghiệp dân tộc. Tôn trọng dân chủ thực chất là với tư cách một giá trị phát triển chứ tuyệt đối không phải là phương tiện phát triển, phát huy trí tuệ xã hội như một đạo lý phát triển. Xây dựng con người có tầm vóc tư tưởng, bản lĩnh văn hóa, trí tuệ khoa học và trách nhiệm công dân đất nước và toàn cầu.
Thứ ba, xây dựng nền kinh tế tự chủ và hội nhập thông minh: định hình kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức với tốc độ tương ứng chất lượng các nguồn lực, trung tâm là nguồn nhân lực. Xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển. Ưu tiên đầu tư vào giáo dục, khoa học công nghệ, hạ tầng số và phải coi đó là quốc phòng, an ninh về kinh tế và xã hội. Chuyển đổi phương thức phát triển từ tài nguyên, lao động giá rẻ sang tri thức, sáng tạo và đổi mới công nghệ. Đề phòng các cuộc khủng hoảng cục bộ (thể chế, tài chính, môi trường sinh thái, địa chính trị…). Phát triển vùng động lực và đô thị hóa xanh, thông minh; chuyển đổi số - chuyển đổi năng lượng - đổi mới giáo dục. Đời sống mọi mặt của Nhân dân được nâng cao phải là thước đo thuyết phục sự phát triển và quyết định cuối cùng cao nhất sức mạnh quốc gia.
Thứ tư, kiến tạo thể chế và quản trị quốc gia hiện đại: Chuyển từ “quản lý” sang phục vụ, kiến tạo, dẫn dắt; phát triển khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo là động lực then chốt. Cải cách triệt để bộ máy theo hướng liêm chính, hiệu quả, phục vụ Nhân dân, xóa bỏ đặc quyền, minh bạch quyền lực. Thiết lập các “bộ lọc” về cơ chế vận hành chính trị, văn hóa, kinh tế để ngăn chặn sự tha hóa quyền lực chính trị, thoái hóa quyền lực kinh tế, tham nhũng kinh tế, tham nhũng chính trị… Phân quyền, phân cấp mạnh mẽ, đi đôi với kiểm soát quyền lực bằng pháp luật và văn hóa, trên cơ sở định rõ trách nhiệm cá nhân - tổ chức - thể chế. Bộ máy tinh gọn không phải là con số mà là con người. Thước đo trách nhiệm lãnh đạo, cầm quyền không phải lời nói mà là kết quả phục vụ Nhân dân, phụng sự dân tộc và Tổ quốc.
Thứ năm, phát triển cấu trúc văn hóa - đạo đức - giáo dục: văn hóa phải dẫn dắt phát triển hệ giá trị quốc gia, là gương mặt và linh hồn quốc gia, là cương lĩnh hành động một cách nhân văn và bền vững; giáo dục không phải là mơ ước xa vời càng không phải là hệ quả sau cùng mà là hiện thực Việt Nam tương lai. Xây dựng và phát triển hệ sinh thái tinh thần - đạo đức - văn hóa hành động dân tộc như Quốc bảo bất biến. Phát triển con người Việt Nam toàn diện; xây dựng văn hóa chính trị Đảng gần Nhân dân, vì Nhân dân, học Nhân dân.
Cải cách mạnh mẽ giáo dục - y tế - văn hóa, kiến tạo một hệ sinh thái nhân văn, khai minh và sáng tạo không ngừng nâng tầm tri thức và bản lĩnh văn hóa Việt Nam bằng cách kết hợp một cách tự nhiên trí tuệ con người với trí tuệ nhân tạo (AI), phát triển Việt Nam số, xã hội học tập. Tổ chức lại hệ thống báo chí - truyền thông - lý luận nâng tầm báo chí là diễn đàn tư tưởng của quốc dân song hành xây dựng kênh truyền thông lý luận chính trị - văn hóa - xã hội xứng tầm trong chỉnh thể Đảng - Nhân dân - Tổ quốc trong không gian số.
Thứ sáu, phát triển bền vững và chủ động toàn diện trước biến đổi toàn cầu: cân bằng chiến lược các mối quan hệ quốc tế chiến lược trên cơ sở lòng tin chiến lược quốc gia trong môi trường địa chính trị quốc tế mới. Định vị Việt Nam là một quốc gia bản lĩnh, danh dự giữa thời đại biến động và thế giới bất định. Thiếu ba nhân tố lòng tin chiến lược, bản lĩnh và danh dự tất sẽ bại vong trong mọi mối quan hệ quốc tế, dù ở bất cứ thời kỳ và hoàn cảnh nào.
Đổi mới phương thức
phát triển theo hướng bền vững, nhân văn
Đây chính là xử lý mối quan hệ giữa lý tưởng với hiện thực, giữa tầm nhìn xa rộng với hành động, giữa lựa chọn phương thức và tốc độ phát triển, giữa thời và thế, giữa chiến lược và sách lược… sẵn sàng tự vượt qua mình, khi thời cơ và vận hội tới.
Một là, đổi mới tư duy kiến tạo thay vì chỉ bó hẹp tư duy quản lý: chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo - phục vụ - đối tác. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm đổi mới thể chế linh hoạt - hành động nhanh, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả. Lượng hóa trong cấu trúc lại hệ thống bộ máy, đoạn tuyệt song trùng, xóa bỏ tầng nấc trung gian, không rõ trách nhiệm vụ theo hướng phân cấp, phân quyền minh định, thống nhất trên nền tảng chuyển đổi số mạnh mẽ và minh bạch hóa trách nhiệm giải trình.

Tổng Bí thư Tô Lâm; nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng ngày 07/02/2026
Đổi mới hệ thống lý luận chính trị nhằm phát triển hệ lý luận Việt Nam về CNXH hiện đại, bản sắc, có khả năng giải thích và dẫn dắt thực tiễn tiến tới xây dựng nền lý luận khai sáng, kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - tư tưởng Hồ Chí Minh - tinh thần đổi mới sáng tạo - trí tuệ hiện đại - đạo đức cao cả.
Hai là, phương pháp tư duy - tổ chức thực tiễn: tư duy đổi mới toàn diện, đồng bộ và dẫn dắt dựa trên ba nguyên lý tổ chức thực tiễn: Thấu hiểu Nhân dân - học hỏi Nhân dân - phục vụ Nhân dân; tổ chức thực tiễn phải đặt trên nền tảng tầm nhìn chính trị và cơ sở kinh tế - xã hội hiện thực, năng lực hành động gắn với truyền thông lý tưởng, với tốc độ phù hợp; hiệu quả cụ thể, được lượng hóa, được đo bằng sự hài lòng và ủng hộ của Nhân dân.
Ba là, phương thức tổ chức thực tiễn phát triển gắn với phát triển đạo lý: đổi mới không thể chắp vá, bảo đảm tính hệ thống, dựa trên tư duy lý luận mang tầm chiến lược, chuẩn bị hệ điều kiện để thực thi những quyết sách chiến lược. Thể chế hóa vai trò của Nhân dân: từ đối tượng của quản lý, được phục vụ thành chủ thể kiến tạo và phát triển xã hội. Đảng tự đổi mới, tự chỉnh đốn theo nguyên lý, Đảng chỉ mạnh khi gắn bó máu thịt với Nhân dân và tự sửa mình.
Phát triển các động lực cơ bản và chủ yếu
Từ tầm nhìn, hệ giá trị và mục tiêu phát triển, tiếp tục phát hiện, kiến tạo và thực thi một hệ thống động lực chiến lược vừa làm nền tảng, là sức mạnh đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và bước vào hàng ngũ các quốc gia phát triển. Không phát hiện và nắm lấy hệ động lực thì không có bất cứ sự phát triển đúng hướng, mạnh mẽ, bền vững nào mong muốn.
Thứ nhất, động lực chính trị: Đảng vững mạnh - Nhà nước liêm chính - Nhân dân là trung tâm. Không có chính trị vững vàng thì không thể có phát triển bền vững và nhân văn.
Đảng là hạt nhân sáng tạo, khai sáng và không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, cầm quyền; xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền XHCN, với ba trụ cột thực thi: cải cách thể chế - cải cách quản trị - bộ máy tinh gọn, phục vụ Nhân dân thống nhất với phát triển lợi ích quốc gia trên nền móng khơi dậy và phát huy sức Dân - bồi dưỡng trí Dân - cố kết lòng Dân thành lực lượng căn bản của dân tộc phát triển bền vững. Đó là sự tạo thế, dựng thời lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Thứ hai, động lực con người và khát vọng dân tộc. Đặt con người Việt Nam vào trung tâm chiến lược phát triển, từ nguồn lực thành chủ thể sáng tạo. Khơi dậy khát vọng phú cường, cổ vũ tự tôn, tự cường, tự trọng dân tộc và tinh thần vượt mọi thách thức, mọi giới hạn trên đường phát triển. Đổi mới căn bản giáo dục, xây dựng con người trí tuệ, đạo đức và trách nhiệm, với động lực mới là sự kết hợp nguồn lực trí tuệ con người với trí tuệ nhân tạo (AI). Đó là trung tâm tư duy và hành động của Đảng.

Toàn cảnh Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Thứ ba, động lực thể chế và pháp luật phát triển. Cải cách thể chế một cách đồng bộ, minh bạch, hiệu quả. Thể chế hóa hệ giá trị Việt Nam hiện đại bảo đảm dân chủ thực chất, pháp quyền nhân văn, quản trị công khai. Giảm tối đa sự can thiệp hành chính, bảo đảm tính tự chủ cho doanh nghiệp, các khu vực kinh tế, các vùng lãnh thổ theo pháp luật; không hình sự hóa các hoạt động dân sự về kinh tế và xã hội. Đó là “bảo kiếm” lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Thứ tư, động lực khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo kinh tế, xã hội. Khoa học công nghệ là trụ cột của nền kinh tế tự chủ, hiện đại hóa và kiến tạo thương hiệu quốc gia. Đầu tư mạnh mẽ và tương xứng vào chuyển đổi số, Công nghiệp 4.0, AI, năng lượng sạch. Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo từ giáo dục - doanh nghiệp - chính sách - con người. Đó là sức mạnh căn bản lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Thứ năm, động lực văn hóa - đạo đức - bản sắc Việt. Phát triển kinh tế đi đôi với phục hưng văn hóa dân tộc, không đánh đổi văn hóa lấy tăng trưởng; không hy sinh văn hóa sinh thái đổi lấy kinh tế… Tái lập trật tự giá trị - đạo đức công - liêm chính xã hội.
Xây dựng văn hóa dân chủ, văn hóa pháp quyền, văn hóa đổi mới, văn hóa cống hiến. Đó là nền móng và rường cột sức mạnh và uy tín lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Thứ sáu, động lực hội nhập và phát triển bản sắc. Chủ động hội nhập toàn diện, nhưng trên nền tảng độc lập tự quyết, vì lợi ích dân tộc với bản lĩnh Việt Nam. Việt Nam trở thành đối tác tin cậy - thành viên tích cực - trung tâm kết nối khu vực và thế giới. Định vị nền hành chính quốc gia trong sự vận hành các định chế và luật pháp quốc tế nhằm hội tụ tinh hoa thế giới, đồng thời chia sẻ lợi ích hài hòa và cộng đồng trách nhiệm đối với nhân loại, góp phần xây dựng trật tự thế giới đa cực - dân chủ - bền vững nhằm nâng cao quốc thể, sức mạnh và uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Đây là sự tiếp nối vai trò, sức mạnh lãnh đạo, cầm quyền bên ngoài quốc gia của Đảng.
Từ vị thế năm 2025, dân tộc làm nên lịch sử kỷ nguyên phú cường Việt Nam.
Trước yêu cầu phát triển mới, Đảng làm trung tâm - Nhân dân là chủ thể - Văn hóa làm nền tảng mà kiến tạo và thúc đẩy mô thức hành động: Chính trị dẫn đường - Văn hóa soi đường - Khoa học định hình - Nhân dân thực thi, với phương thức và tốc độ phù hợp với thực lực đất nước và điều kiện thời đại.
Mùa Xuân Bính Ngọ 2026 khai mở con đường 25 năm tới mùa Xuân Canh Ngọ 2050 Việt Nam phú cường.
Muốn thành kim cương, phải đối diện và hóa giải thành công mọi áp lực.
Lịch sử đã điểm chuông!
Mã đáo thành công!

Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội) được trang hoàng rực rỡ chào mừng Đại hội XIV của Đảng Ảnh: Phạm Thắng











