Tâm thế và tầm cao mới của đối ngoại Việt Nam

Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ yêu cầu nâng tầm đối ngoại, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, trọng yếu, thường xuyên, chủ động kiến tạo, đóng góp và từng bước định hình môi trường quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc.

Việc nhận diện đúng nội hàm của “ngoại giao toàn diện tầm cao mới” không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, định hướng cho việc đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc trong sự nghiệp đối ngoại.

Trong thời bình, ngoại giao phải đi trước, “từ sớm, từ xa”, để ngăn ngừa xung đột, đẩy lùi chiến tranh, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khôn khéo dùng ngoại giao trong những năm 1945-1946 để kéo dài thời gian hòa bình cho đất nước, chuẩn bị trước một cuộc xung đột không thể tránh khỏi với thực dân Pháp.

Trong những năm 1980, ngoại giao đứng ở tuyến đầu đưa đất nước thoát khỏi bao vây, cấm vận. Hay trong 40 năm đổi mới và hội nhập quốc tế vừa qua, ngoại giao đóng góp to lớn trong việc thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, tạo môi trường hòa bình và thu hút nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Công cụ chiến lược quan trọng hàng đầu

Khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, tăng tốc phát triển để đạt mục tiêu trở thành nước công nghiệp phát triển vào năm 2045, Đại hội XIV của Đảng đã xác định đối ngoại, ngoại giao phải được nâng lên một tầm cao mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế mới của đất nước.

Ngoại giao phải là một công cụ chiến lược quan trọng hàng đầu, đóng vai trò trọng yếu, thường xuyên, ngang tầm với quốc phòng và an ninh trong sự nghiệp bảo vệ hòa bình ổn định và phát triển thịnh vượng của đất nước.

Ngoại giao tầm cao mới là nền ngoại giao đóng vai trò tiên phong trong việc tạo lập, giữ môi trường hòa bình, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; tiên phong trỏng việc đẩy mạnh hội nhập quốc tế, huy động nguồn lực, nhất là khoa học công nghệ từ bên ngoài để phát triển đất nước; và tiên phong nâng cao vị thế, uy tín và vai trò Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại.

Ngoại giao tầm cao mới không còn là một nền ngoại giao thích ứng với môi trường quốc tế mà phải được nâng lên thành một nền Ngoại giao có khả năng định hình môi trường quốc tế và khu vực. Nghị quyết 59 của Bộ Chính trị năm 2025 đã nhấn mạnh yêu cầu Việt Nam tham gia chủ động và có trách nhiệm hơn vào các cơ chế khu vực và toàn cầu, từng bước đóng góp, định hình luật chơi quốc tế, chuyển mạnh từ trạng thái “tham gia, thích ứng” sang tư duy “chủ động kiến tạo và đóng góp”.

Toàn diện trên tất cả phương diện

Ngoại giao trong kỷ nguyên mới phải tiếp tục là một nền ngoại giao toàn diện được triển khai trên thực tế từ hơn 15 năm trước đây, nhưng phải được nâng lên một tầm cao mới, nhằm đáp ứng những yêu cầu mới, khi quan hệ quốc tế đã trở nên ngày càng đa dạng, đa chiều, đa chủ thể, đa lĩnh vực, nhiều thành phần xã hội tham gia, đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện, tổng hợp, liên ngành vì hiệu quả đối ngoại và cũng nhằm vận dụng bài học lịch sử về phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thời gian qua.

Ngoại giao mang tính toàn diện trước hết ở chủ thể và lực lượng tham gia đối ngoại. Đại hội XIII đã xác định xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba kênh trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Ngoại giao không còn là công việc riêng của một ngành mà là sự phối hợp của cả hệ thống chính trị, trong đó Đảng đóng vai trò lãnh đạo, Bộ Ngoại giao đóng vai trò chủ lực, chuyên nghiệp, trong khi Quốc hội, các bộ ngành, địa phương và các tổ chức xã hội đóng vai trò phối hợp, mỗi lực lượng đều có vai trò riêng nhưng phối hợp nhịp nhàng, thống nhất trong mục tiêu và hành động.

Tính toàn diện còn thể hiện về mặt đối tượng và địa bàn hoạt động, rộng mở bao trùm mọi quốc gia, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, tập đoàn xuyên quốc gia, giới nghiên cứu… trên mọi châu lục, trong đó ưu tiên láng giềng, nước lớn, bạn bè truyền thống, đối tác giàu tiềm năng.

Tính toàn diện thể hiện qua những phương thức thực hiện: Ngoại giao song phương đóng vai trò chủ lực để thúc đẩy quan hệ với các nước, trong khi ngoại giao đa phương đóng vai trò chính trong việc nâng cao vị thế của đất nước, và cần được nâng tầm, để không chỉ tham gia mà phải chủ động xây dựng, định hình “luật chơi” tại các diễn đàn khu vực và toàn cầu (Liên hợp quốc, ASEAN, APEC…), như chỉ thị 25 của Ban Bí thư năm 2018.

Đặc biệt, đó còn là tính toàn diện về lĩnh vực và công cụ, bao gồm: Ngoại giao chính trị; ngoại giao kinh tế - khoa học công nghệ; ngoại giao văn hóa và tuyên truyền đối ngoại; công tác cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Trong đó, ngoại giao kinh tế và công nghệ được xác định là mũi nhọn và là động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước, trước mắt nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số, hỗ trợ bốn chuyển đổi lớn của đất nước (chuyển đổi số, xanh, năng lượng, mô hình tăng trưởng), đặc biệt chú trọng kết nối với các tập đoàn công nghệ lớn về AI, bán dẫn, lượng tử.

Nghị quyết 59 của Bộ chính trị đã chỉ rõ, nhiệm vụ của ngoại giao kinh tế là khai thác tối đa các Hiệp định thương mại tự do đã ký, mở rộng và tiếp cận các thị trường tiềm năng (Trung Đông, Mỹ Latinh, Trung Á…), đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.

Ngoại giao công nghệ phải nhằm các trọng tâm đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ chiến lược; thu hút các chuyên gia, tri thức người Việt đóng góp xây dựng đất nước; và xây dựng mạng lưới đối tác khoa học công nghệ toàn cầu.

Đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”

Để hiện thực hóa vai trò ngoại giao toàn diện tầm cao mới, cần có những giải pháp đồng bộ từ nhận thức, thể chế đến xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại chuyên nghiệp: Cần thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị về sứ mệnh và mục tiêu đối ngoại theo đường lối Đại hội XIV. Cần nhanh chóng thể chế hóa đường lối đối ngoại của Đảng thành các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Cần khẩn trương xây dựng hạ tầng đối ngoại hiện đại, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác ngoại giao.

Đặc biệt, muốn có ngoại giao toàn diện tầm cao mới thì trước hết phải có đội ngũ cán bộ ngoại giao tương xứng. Đây phải là đội ngũ “vừa hồng vừa chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời có tư duy chiến lược, trình độ chuyên môn sâu, ngoại ngữ tốt và năng lực thích ứng nhanh với thay đổi của thế giới.

Cán bộ ngoại giao thời kỳ mới không thể chỉ giỏi lễ tân, hồ sơ thủ tục hay đàm phán, mà phải là những “nhà kiến tạo chính sách”, có khả năng nghiên cứu, phân tích, dự báo và đề xuất giải pháp ở tầm chiến lược. Họ cần hiểu sâu về kinh tế quốc tế, luật pháp quốc tế và cả những lĩnh vực mới như khoa học - công nghệ, dữ liệu, văn hóa số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, chuyển đổi xanh và chuỗi cung ứng.

Việc xây dựng đội ngũ cần bắt đầu từ công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ theo hướng thực chất, đa ngành, tạo điều kiện để cán bộ ngoại giao được rèn luyện trong thực tiễn, trải qua môi trường đa dạng từ song phương đến đa phương, từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, công nghệ và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Thực lực là cái “chiêng”, ngoại giao là cái “tiếng”. Chỉ khi đội ngũ ngoại giao có thực lực vững chắc, tiếng vang ngoại giao Việt Nam mới có thể bay xa, đưa đất nước vững bước vươn mình sánh vai với các cường quốc năm châu.

Tựu trung, ngoại giao toàn diện tầm cao mới chính là sự phát triển tiếp nối nhưng ở trình độ cao hơn của nền ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập, trong đó đối ngoại không chỉ nhằm thích ứng với biến đổi của thế giới mà còn chủ động góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các nguồn lực phát triển, nâng cao vị thế và uy tín đất nước.

Muốn làm được điều đó, cần sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự vào cuộc của mọi ngành, mọi cấp, mọi lực lượng, cùng với một đội ngũ cán bộ đối ngoại đủ bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn và năng lực hành động.

ĐS. TS. Tôn Sinh Thành

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/tam-the-va-tam-cao-moi-cua-doi-ngoai-viet-nam-421217.html