Tản văn Nguyễn Ngọc Tư: Kén sương mù
Cũng có lúc sương mù ngã bịnh. Nhàu nhĩ xám xịt nhưng nóng hầm hập. Bị phơi nhiễm gió Tây, thứ gió hiếu động thốc tung bùn đỏ khu khai thác quặng, khói bụi của nhà máy nhiệt điện, những xưởng nung vôi phía Cầu Xuôi, rồi gieo tẩm khắp nơi...
1.
Có một hẻm vực ngay trong thị trấn. “Nhớ né nó ra”, khách sẽ được căn dặn trước bởi tài xế, anh lơ, hay dân bản địa có mặt trên mấy chuyến xe buýt trong ngày (với cái biểu cảm như thể họ cảnh tỉnh chính mình), hoặc trên cái biển cảnh báo nguy hiểm dựng ngay trước trung tâm hỗ trợ du lịch (trong trường hợp sương mù không ngăn khách có thể đọc được nó). Hãy cẩn trọng vì mép vực men theo con đường băng qua thị trấn. Bên trái, hoặc phải, tùy thuộc khách đi vào từ bến xe hay phía bên kia dốc Trời Ơi. Rào chắn hiển nhiên là có, nếu khách nhìn thấy chúng. Và nếu sương đặc không ngắt trụi tầm nhìn, khách cũng sẽ thấy rõ đoạn rào nào bị xô đổ, đứt rời bởi trâu bò hoặc con người vô tình tác động vào.
Tin tốt, là hết thảy những sinh vật nào rơi xuống hẻm vực đều sống sót. Vực không sâu lắm, vách thoải với thảm thực vật đan dệt dày dưới đáy đỡ lấy những thứ chẳng may văng mình vào, có xước xát dọc đường cũng chẳng là bao. Động vật, bao gồm con người có thể tự tìm đường ra khỏi đó, trở về.
Chỉ là, về như kẻ khác.
Khách không muốn giống như chị Tơ đâu, từ cái khuya trèo lên từ hẻm vực, chị không bao giờ ngủ nữa. Trong tai chị toàn tiếng trẻ con khóc, như chị nói. Dù căn phòng chị được ba Tường mình giúp chèn kín, cách âm hết cỡ, nhưng tiếng khóc vẫn inh ỏi khiến chị không cách nào chợp mắt. Những lúc ngó chị thẫn thờ, ba mình bảo do chị đói chiêm bao. “Một người sống mà không chiêm bao thì khổ biết chừng nào”, ba nói, và đó là lý do mỗi sáng trước khi đi làm ba ghé nhà kể chị nghe những mơ còn ấm nóng đêm qua.
Khách chắc cũng không muốn hắt xì hơi đến đầu rời óc rã, hệt con Ròm, sau cái lần rơi hẻm vực vì mải đuổi theo bầy rắn mối.
Xứ mình có một câu nói để chỉ ai đó bỗng dưng hành động, nói năng khác thường: “cứ như mới té vực xong”. Như hồi anh Tèo Mã Tấu đòi ứng cử làm trưởng trấn, nội anh dòm thằng con xăm trổ lom lom, “ủa mầy rớt vực hồi nào mà tao không biết?”.
2.
Tháng Bảy, tháng của món xi rô sương mù. Sương đặc quánh, có thể hứng đựng trong ly, trước khi chan vào đó thứ hỗn hợp của đường với nước ép trái cây nấu sệt (và để ngon mắt, người ta không quên bỏ thêm một ít phẩm màu). Dĩ nhiên là nó không được lạnh, xốp như nước đá bào lướt trên lưỡi dao mỏng, nhưng vẫn đủ man mát chảy tan trên gai lưỡi. Sương thì chỉ cần bước ra sân quơ tay là được cả vốc, cây ăn trái không thể tươi tốt ở đây nhưng chợ luôn sẵn bày, công thức lại chẳng mấy phức tạp, nên nhà nào cũng nấu xi rô. Trẻ con gặp nhau là ngất ngây khoe sắc lưỡi, đố nhau mình vừa ăn xi rô vị gì. Cũng là màu vàng, nhưng là đào, thanh trà, hay cam?
Món xi rô sương mù ở tiệm nước chú A Lén thì như nước lã. Dù những cẩm nang du lịch mà khách từng đọc đều ghi đây là món PHẢI THỬ nếu đến Hòa Cơ dịp giữa năm. Đám con nít không cách nào ưa nổi thứ xi rô cay đắng ấy. Thức uống vốn dành cho người lớn. Họ tới vì món sương dầm trong thứ nước trong suốt, thứ giúp họ gặp lại, sống lại với những gì đã mất. Ấy có thể là những vật chất mà người ta lỡ nặng lòng, như chiếc vòng đá xanh, cối đồng giã trầu, đôi trâu đất… Nói cho cùng, người ta càng sống lâu mới càng đánh mất nhiều. Song thân quá cố, bạn cũ lưu lạc, hay em bồ chia biệt từ hồi nào, ai cũng từng mất đi một vài người thân thuộc nào đó. Nhất là ở cái thị trấn mà mỗi gia đình đều có một hoặc vài ba người bỏ đi.

Những ngày ấy mình cũng đổi bộn tiền vào cái hộc tủ đựng tiền sau quầy nước, lấy món xi rô khó nuốt. Nhưng chỉ cần ngụm đầu tiên trôi qua cổ họng, ngoài sân sương tan, nắng rạng lên, không ngừng nới rộng thể tích cho đến khi tinh thể vàng sáng trải đều tận chân trời. Thứ nắng chắc dày viên mãn, lai láng khỏa trên từng chân rào, khe vách. Bà nội trải mấy cái gối gòn ra tấm đệm phơi. Má vuốt lại mép của tấm mền vắt trên sào, ở gần đó, mình đang cố giẫm lên bóng chính mình, nhưng chẳng cách nào nhanh hơn bóng. Vài người ngang qua đường, khói nắng viền quanh họ những đường viền gợn sóng. Và bởi vì nắng lóa quá mà họ đi qua khá xa rồi, khuất sau khúc quanh sau chợ rồi, nội với má mình vẫn cãi hăng liệu mấy người nọ là ai. “Thì cũng dân trong xóm mình chớ đâu”, nội nói, chốt lại cuộc tranh luận lãng òm.
Ảo cảnh nào họ cũng đôi co về những thứ tầm phào, kiểu như lúc khuya rồi cắc kè kêu sáu tiếng hay chín, con chim vừa bay qua kia là chim trống hay mái, gió này là gió Nam hay Bắc. Nhưng bao giờ họ gật gà đồng thuận với nhau, sương mù cũng quay lại. Tác dụng của ly xi rô đã hết. Thời khắc thòm thèm, nuối tiếc này dễ khiến người ta lần túi để mua ly nữa, nữa. “Hệt như thua bài, kiểu gì cũng muốn gỡ”, chú Lén ngồi rung đùi vuốt thẳng mấy tờ giấy bạc quăn góc, chẳng ngại nói toạc ra cả vế sau với ông già nhà thơ duy nhất của thị trấn “nhưng với món xi rô của tui là thiên hạ từ thua tới thua”.
Thứ già Him đánh mất chẳng đường nét, khối hình chi hết. Như cái ý tưởng bài thơ mà ông già nghĩ ra lúc ngang qua chợ, thứ khiến ông ngây ngất lúc đó, cố lẩm nhẩm trong đầu, cố dìu nó về nhà để ghi chú ra giấy. Và rồi nó chuồi ra khỏi ông khi qua một khúc quanh nào. Đã qua rồi thói quen nuôi chữ cho chín rục trong đầu mới viết ra, giờ thứ chi ông già cũng phải ghi chú lại, nhưng đến ghi cũng chẳng kịp, nhiều khi. Cảm giác mình đánh rơi những thứ độc và đẹp khiến già Him điên máu. Nhưng có nốc xi rô no nê cũng vô ích, ta không thể nhìn lại thứ mình đánh mất trong ảo cảnh khi mà ta không biết nó là gì.
Không biết có phải vì vậy, hay bởi biết món xi rô chú Lén dở tệ, mà Nhi chẳng thử lần nào. Mỗi khi mình khoe vừa gặp má trong ảo cảnh, em đều nói “phải chi tui có thứ gì để nhớ tiếc, ông Lén bán xi rô mắc như vàng tui cũng mua”.
3.
Con nít Hòa Cơ năm ba tuổi đã phân biệt được du khách với dân thị trấn. Khách thường không giở cao chân, bước lí nhí, lò dò. Mắt cá chân họ không có đồng tử để dòm ngó, mà mặt đường thị trấn thì khuất lấp trong sương. Mọi thứ đều bị bưng giấu, ở Hòa Cơ. Chợ, lò gạch cũ, đám cây xầu, miễu Bà Nguyệt Độ, hàng rào, những căn nhà. Chuyện cộc đầu vào tường vẫn hay xảy ra. Ta có thể đứng cách nhau chỉ một với tay mà không nhận ra ai đang đối diện. Khách của mình nhiều lần ới tên mình, dù người đang đi ngay bên cạnh.
“Sương gì mà dày bịt luôn trời”, khách hay kêu ca với cái giọng không hẳn là kêu ca. Trầm trồ thích thú thì đúng hơn, bởi họ tới chính là để trải nghiệm cái hư thực, quờ quạng này. “Như được mộng du khi đang tỉnh”, họ nói. Đôi lúc khách sẽ không nhận ra mùi nước giặt trên áo của chính mình. Và tiếng nói trầm bổng đều lẫn hạt, vào những ngày sương ướt quá, hơi ẩm đọng trong cuống họng rồi vỡ theo lời. “Ở Hòa Cơ, cả bản thân ta cũng là một kẻ xa xôi khôn thấu”, già Him từng viết vậy trên báo Văn, số mùa thu năm ngoái.
Câu đó tụi mình, mình với Nhi, lượm được lúc trên đường, bởi thói quen ông già vừa đi vừa viết vào không khí những câu chữ đang nhảy nhót trong đầu. Chỉ cần bắt lấy chúng trước khi sương tự liếm láp, làm liền sẹo. Có lần tụi mình đi đằng sau ông, nhặt nhạnh được trọn một bài thơ. Dĩ nhiên là tụi mình đâu có biết thứ tự các câu, nhưng già Him đã sắp xếp chúng lại trước khi in vào tập Mùa cuối.
đêm qua
tàu rời đi
tóc dăm bảy sợi
cắt ngọt vào lòng gối
ở rìa mép của tiếng còi
ba lô chưa khóa kéo
thiêm thiếp đợi chuyến tàu kế tiếp
một hành khách chờ báo mộng
đâu hay khói tàu vẽ một cây cầu
nhịp cuối cùng bắc vào phía sau mây
kìa những thanh ray thức dậy
nghe quanh đây xào xạc tiếng rừng sao
đêm qua chân trời gửi thư mời
- vâng, sớm muộn gì tôi cũng sẽ đến nơi.
Sống ở Hòa Cơ đủ lâu, dân thị trấn biết cách nhận ra nhau. Ngó thấy mấy đốm sương nâu, biết bà cóc Bính đang bì bõm nhai trầu quanh đó. Hay ông từ giữ miếu bắn nạng gỗ vào mặt đường, rất khác cách tiếng guốc mộc chị Tơ (hồi chưa rơi hẻm vực) rỏ đều giọt vào sương. Ba Tường luôn đi cùng tiếng huýt sáo bài Từ đó, và nếu có âm thanh kim loại va nhau thì hẳn má đang ở gần. Bộ vòng xi men mười hai chiếc đã khua suốt những đêm trước khi má đi.
Nhưng mà Nhi, vốn thầm lặng như hoa văn của sương mù, cách nào mà mình biết em ấy luôn ở cạnh mình, và nhận ra em từ đằng xa?
4.
Ba Tường lái chính cho chuyến buýt số Chín từ Hòa Cơ đi Núi Cạn, và ngược lại, trên cung đường hai mươi mốt cây số mỗi lượt. Một nửa đường bị sương mù nuốt trộng. Khách được khuyên can không nên tự lái xe trong tình trạng chẳng thể chắc chắn mặt đường ở đâu dẫu có bật bao nhiêu đèn. Mấy bãi giữ ở Núi Cạn có thể chứa chấp tất thảy xe mà khách gửi lại, trước khi họ trèo lên buýt, phương tiện được coi là an toàn nhất để đến Hòa Cơ.
Những chuyến xe thường chỉ trống nửa số ghế vào mùa hè, khi mà đám học trò thị trấn không phải tới trường bên Núi Cạn. Không có trường lớp nào trong thị trấn, không hẳn vì tụi nhỏ và thầy cô, bảng đen khó ngó thấy nhau, mà bởi trẻ con cần nắng để lớn, thứ mà xứ này gần như không có được bao nhiêu. Nhưng nắng cũng không phải đặc quyền chỉ dành cho trẻ nhỏ, nên dân thị trấn những khi thèm nắng quá, đều nhảy lên xe buýt đi tìm chỗ phơi mình. Những người này không cần đến bến cuối chi cho xa, qua khỏi cây cầu ranh giới của Hòa Cơ là nắng đã phủ phê, ngập ngụa.
Khách đi khung giờ sáng và trưa chắc chắn sẽ ngồi vào chiếc xe sơn xanh thẫm kẻ sọc vàng dọc thân trông cổ lổ với ông tài xế thấp người, chân bằng lưng, mặt dày bịt sẹo rỗ nhưng giọng nói mỏng cao như thể có ai đó mượn miệng ông để thốt ra lời. “Bà con đi vui nghen! Hẹn gặp lại!” ở chiều đi Núi Cạn hoặc vẫn câu ấy, với chất giọng như hơi thở nhẹ ấy, nhưng thêm “Nhớ né cái vực ra” lúc khách xuống bến xe Hòa Cơ. Trong những thư khen khách gửi lại thị trấn, khách nhắc ba Tường suốt. Họ nói ba không lái xe, mà lái con diều, khinh khí cầu, hay một vật thể bay nào tương tự. Cảm giác bánh xe lướt trên không khí chứ chẳng phải mặt đường, và dưới thao tác của bác tài nhã nhặn, mọi bộ phận của hộp số, những trục dẫn động, bánh răng, ổ bi, bộ đồng tốc thì như thể làm bằng thạch, nên cỗ xe chẳng chút nào khập khựng, hoặc cộc cằn khi lên dốc, lúc qua những khúc quanh. Rồi thì, làm cách nào ba mình có thể nhìn thấy đường sá, với tất cả sự uốn lượn hiểm hóc, trong lúc sương đang cố tình bịt mắt? Làm cách nào mà những chuyến xe ba lái luôn đúng giờ, đến từng giây?
Hỏi thì ba Tường gãi mấy nốt sẹo rỗ, bảo cũng không biết. Có thể ba biết mà chẳng tiện nói. Không thể hồn nhiên theo cách ông nội, người lái xe buýt số Chín đời thứ nhất, đã từng, vào một hôm hứng chí. “Ôi trời, có gì mà khó, tôi lái xe chỗ đâu thì là con đường chỗ đó”, ông nội nói. Bà nội khi đó cằn nhằn ông nhức xương, bảo bao sinh mạng đặt vào ông mà cứ coi như không, chẳng chút nào nghiêm cẩn. Một lần khác bà day qua ba mình, vẫn cái giọng như chính nó đang chặt vào những lóng mía trước mặt bà, chứ không phải con dao, rằng “Thằng cha bây toàn nói bậy, đừng có nghe, cái gì mà mơ nhiều như bây thì lái xe trong sương mù dễ ợt. Hàng mấy chục con người bây chở theo, họ sống sờ sờ ngoài đời đây chớ đâu phải ở chiêm bao”.
Nhưng cũng có thể ba Tường không có câu trả lời nào. Như ba vẫn từng tiếc tại sao trong chuyến xe đưa má mình xuống Núi Cạn vào chiều ấy, dù ông đã cố tình hoãn đãi, viện cớ sương mù tháng Chín nên khó mà đi nhanh, nhưng giờ về bến vẫn đúng bon. Và lẽ ra ông nên nói gì đó níu giữ người thì lại bảo “Đi vui nghen!”.
Nếu có chút gì an ủi, thì ông đã không quên thốt lên ba từ “hẹn gặp lại!”.
5.
Thể nào rồi ba Tường cũng lấy chị Tơ, không thì sao vừa dậy, đã tót qua nhà chị kể mơ đêm qua, không thì sao bên nhà có món gì ngon ba đều chia sang cho chị. Nhưng chị Tơ không phải từng cặp với tay chủ khách sạn nào bên Phú Huề, chết lên chết xuống vì thằng chả sao? Mấy người chở củi từ dưới rừng núc nác lên đỉnh Gò, hay đưa chuyện lúc ngồi nghỉ mệt. “Nghe là biết không phải dân Hòa Cơ”, Nhi cười nhẹ. Sống trong sương mù đủ lâu, dân thị trấn không cố xác quyết một mối quan hệ nào.
Thị trấn, như trong sách Sơn Đầu ký ghi lại, từ sương vấy lên, là nơi trốn trú của những người đàn bà không chồng mà chửa. Chẳng hoàn toàn vì sương khuất mặt, mà còn bởi dân xứ này chẳng mấy quan tâm đời nhau. Từ leo dốc tới nương náu, sinh con xong, ở lại hay rời đi cũng không ai hỏi han gì.
Nhi tới thị trấn cũng lâu, chưa từng có ai truy vấn em tới từ đâu. Trong ánh nhìn những người quen mình còn có chút nhẹ nhõm, như thể vừa kín đáo thở phào, “rốt cuộc rồi con nhỏ cũng có bạn chơi cùng”. Mình dẫn Nhi về, ba Tường giăng thêm cái sào phơi, nói “Giặt mùng chiếu được rồi, hôi quá bạn sao dám chun vô ngủ”. Mình ngờ là đêm đầu tiên má mình ghé nhà, ba cũng chẳng hỏi han tên tuổi, chỉ bật hết thảy đèn trong nhà, nói “xứ này lù tù mù vậy, cô đi coi chừng vấp” hoặc “tắm giờ này lạnh lắm, chờ tôi nấu nồi nước pha vô xô cho ấm”. Và khi ngó thấy cái bụng má lùm lùm, hẳn ba cùng lắm cũng chỉ hỏi đã nghĩ được cái tên gì thiệt hay cho em bé chưa.
Dân thị trấn có câu “Làm gì có rõ ra mà làm rõ ra”. Nội anh Tèo nói nhờ vậy mà bà mới giữ được cái lệ sáng nào cũng ra trước nhà chờ già Him ngang qua, cùng đi ăn điểm tâm. Từ hồi mười lăm tuổi đã vậy rồi, như một lời nguyền bất khả phá vỡ, cả khi họ đều đã có bạn đời riêng. Khi thì tiệm mì Mười Ngọ, lúc tiệm xôi Cà Xỉu, họ tới khi nồi nước lèo còn chưa sôi tim, chọn cái bàn quen thuộc, có lúc nói vài câu không đâu, hoặc im lặng, thủng thẳng ăn, gạt mảnh rau dính dưới cằm người kia, vắt miếng chanh vào tô hủ tíu người này, rồi chậm rãi xỉa răng, đến khi ra về lại nắm tay một đỗi đường, rồi rời nhau ra ở trước nhà, chỗ cây xầu bị sét chẻ làm hai sau một cơn giông.
6.

“Sương mù là từ một khe nứt dài chạy dọc theo đáy hẻm vực mà ra, bên dưới những tầng vỉa đá vôi là một dòng sông ngầm, có thể”, đội trưởng của một đội nghiên cứu gần đây nhất, với những thiết bị khảo sát hiện đại nhất, kết luận một câu mà ai cũng rõ từ lâu, rằng bao sương không phải linh hồn của những hoa lau dưới kia mà thành, cũng không phải từ thở dài của những đàn bà một mình đẻ chửa. “Cái khe ấy phải từ một kiến tạo hoặc cú nứt gãy địa chất nào đó”.
“Vậy thì chỉ cần lấp hẻm vực, là trời quang sương tạnh chớ gì”, chú Lăng trưởng trấn cười, hôm ra tiễn họ.
Người Hòa Cơ nào cũng nghĩ tới điều đó, ít nhất một lần trong đời, nhất là khi vấp chân vào thềm hay cộc đầu vào vách. Lấp hẻm vực đi, với tất cả những gì ta có. Rác thải, chẳng hạn, cứ tuôn xuống đó, kiểu gì cũng có lúc đầy. Chẳng phải sắp nhìn thấy lòng vực phơi lộ dưới nắng tháng Ba sao, sau hàng trăm lớp lau đua mọc và tàn lụn chồng chất lên nhau?
Nhưng những ngày nắng ngắn ngủi đâu chỉ soi vào mỗi hẻm vực, mà trải lên khắp thị trấn. Hồi đầu nắng mỏng, non, thận trọng như thể từ một mặt trời sơ sinh và cú nhảy mũi ách xì, tiếng cười phá, cái vung tay bất cẩn cũng làm xước rách. Dù xanh yếu vậy, cũng đủ nhìn rõ một thị trấn xếp hình ô cờ, những mảnh đất trống trải đằng sau dãy khách sạn tiệm ăn đồng hướng mặt ra vài con đường thoải dốc, đối diện bên này là hẻm vực bị che khuất nhiều đoạn bởi miếu Bà Nguyệt Độ, mấy lò gạch cũ, một vài chòm nhà xây theo kiểu cổ, khu chợ đêm với những gian hàng sặc sỡ dựng bằng gỗ tạp. Chỗ sắc màu ấy chẳng làm vui nổi một thị trấn thâm xịt, ngấm nước vì bị sương ngậm quá lâu, và cỏ cây đói nắng chẳng chấm phá nổi một chút xanh nào. Những hàng xầu, loại cây ưa sương lấy giống từ núi Puvan thì tươi tốt vượt lên, nhưng do lá xầu cũng nâu nên tiệp cả vào tường rào, mái ngói.
Nên cái nắng dạn khí trời, rờ rỡ giữa tháng chỉ là làm rõ thêm, sắc nét thêm sự thật hiển nhiên rằng thị trấn không có sương mù thì tuyệt không còn gì khác. Vắng khách tham quan, quán xá đóng cửa, chợ đêm không lên đèn, người ra phơi nắng chán chê lại đứng ngồi đâu đó, lơ vơ. Cái nắng mà bọn mình đã từng thèm nhớ gần suốt năm hóa ra chỉ có vậy. Thi thoảng có một nhóm khách trôi từ dưới dốc lên, thất thần hỏi ủa sương đâu rồi. Họ trốn cái nắng xứ nhà, đi một chặng đường rõ xa rồi đuối mình vào cái nắng tương tự.
“Nắng thì chỗ nào cũng y chang nhau”, ba Tường mình nói, trong lúc quét vôi lại vách nhà, gia cố mấy chỗ dột trên nóc. Việc mà nếu bỏ lỡ thì phải đợi đến đợt tháng Ba năm sau, nên cả thị trấn rần rần sang sửa. Để trần, xương ức ba gồ cao, cái sẹo mổ ruột thừa vắt bên trái bụng chuyển động theo mỗi lần tay ông với. Đôi ống quần cụt thì quăn tớn lên, bên dưới lớp vải mỏng dờn lủng lẳng một chùm dưới sự xiên chiếu thô thiển của mặt trời. Phải không, cũng trong cái nắng như vầy má mình nhận ra ba Tường chẳng có điểm nào ưa nhìn, nên đã bỏ đi? Có tình cờ quá không khi Nhi xuất hiện vào đúng ngày chị Tơ trở lại từ hẻm vực, và em hay chảy nước mắt sống mỗi lần ngang qua chị, mà chính em cũng chẳng hiểu tại sao. Những ý nghĩ mang tính phơi trần kiểu ấy làm mình sợ hãi, hệt như lúc còn học ở Núi Cạn, ánh ngày lên càng sáng rõ mình càng mong tan trường mau mau, để được an trú trong kén sương thị trấn. Chỉ ở đó mình mới có cảm giác được vỗ về.
Tháng Ba nào thị trấn cũng xảy ra vài vụ vỡ lẽ. Chú Lăng trưởng trấn hiện giờ là chú Võ trưởng trấn lúc trước đổi tên thành. Thím Lén phát hiện ra áo chồng mình nay phơi trên rào của một bà góa dưới dốc. Già Him đem sách ra phơi mới hay mình viết lại một cuốn sách đã từng viết rồi. Hay như ngay năm ngoái ai đó phát hiện ra miếu Bà mà mọi người khói nhang phụng cúng xưa giờ thật ra thờ một nàng kỹ nữ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh.
Cuộc phơi lộ chỉ chịu thua hẻm vực. Nắng có cố soi chiếu cỡ nào thì nhìn vào bề mặt trắng hoa lau bên dưới, không ai dám chắc đó là đáy. Những người từng rơi vào, như chị Tơ, lại không hé nửa lời kể lại bên dưới ra sao.
7.
Cũng có lúc sương mù ngã bịnh. Nhàu nhĩ xám xịt nhưng nóng hầm hập. Bị phơi nhiễm gió Tây, thứ gió hiếu động thốc tung bùn đỏ khu khai thác quặng, khói bụi của nhà máy nhiệt điện, những xưởng nung vôi phía Cầu Xuôi, rồi gieo tẩm khắp nơi. Hơi ẩm làm mù sương hấp thụ hết thảy cái hỗn hợp độc địa nọ mà không cách nào khạc nhổ. Sương sốt cao, đêm cũng chẳng nguội đi chút nào.
Những ngày đó sương đắng ngắt. Khách được đám hướng dẫn viên như mình khuyên hãy ngậm miệng chặt và thở bằng mũi thôi, nhưng những con dốc làm họ mất cảnh giác. Vậy là những bữa ăn của họ, dẫu là chè đậu hay bánh bò lá thì vẫn đắng như thường. Mình hay lận trong túi trái thần kỳ, hy vọng giúp ai đó, nhất là trẻ con có được bữa ăn ngon.
Nhi nằm xẹp trên giường suốt những ngày này. Vì không cơ bắp nên đường viền em càng mờ đến như sắp hòa tan vào sương. Người thị trấn đồng loạt mất tiếng sau những cơn ho bể họng. Những ngày ấy bà cóc Bính, người già nhất thị trấn tới ngủ nhờ nhà chị Tơ. Chỉ phòng chị là ít bị nhiễm độc. Nhìn bà thiếp ngủ, đêm chị bớt thênh thang. Chị nói biết đâu ngó đủ lâu một người đang ngủ, ta sẽ thấu suốt chiêm bao của họ.
Mình nghĩ chị phải ngắm ba Tường mình ngủ. Chị sẽ nhìn trọn những giấc mơ của người được coi là tỉ phú chiêm bao, thứ mà kể lại dù hay cỡ nào cũng không sao lột tả hết vẻ đẹp của chúng. Mơ, cũng như hoa lau dưới nắng sớm, ráng chiều tà, cánh mưa trong nắng, đều là những thứ phải tận thấy.
Nguyễn Ngọc Tư - Minh họa: Kim Duẩn
______________
* Trích từ bản thảo cùng tên
Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/tan-van-nguyen-ngoc-tu-ken-suong-mu-51744.html











