Tăng chế biến sâu, nâng giá trị cà phê Việt

Để chuyển từ lợi thế về sản lượng sang vị thế sâu hơn trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu, cần tập trung nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn và gia tăng giá trị của hạt cà phê Việt.

Giá xuất khẩu cà phê Việt Nam bình quân giảm gần 20%

Ngày 2/10, trên sàn London, giá Robusta tháng 11/2026 tăng 3 USD/tấn, lên 3.448 USD/tấn; trong khi kỳ hạn tháng 1 và 3/2027 giảm lần lượt 19USD/tấn và 31 USD/tấn. Tại New York, giá Arabica cũng đồng loạt giảm.

Cơ quan Đô thị và Cung ứng Quốc gia Brazil (Conab) đã điều chỉnh tăng dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2026 - 2027 của nước này lên mức kỷ lục 67,6 triệu bao (loại 60 kg), tăng 19,6% so với vụ trước.

Tính đến nay, Brazil đã hoàn tất khoảng 99% diện tích thu hoạch. Số liệu từ Bộ Thương mại Brazil cho thấy, xuất khẩu cà phê trong tháng 9/2026 đang hướng tới kỷ lục mới, với khối lượng xuất khẩu trung bình ngày tăng 34% so với cùng kỳ năm 2025.

Thu hoạch cà phê tại Tây Nguyên. Ảnh: Đức Thanh

Thu hoạch cà phê tại Tây Nguyên. Ảnh: Đức Thanh

Ở Việt Nam, thu hoạch niên vụ 2026 - 2027 dự kiến bắt đầu từ tháng 10, nhưng cà phê thương phẩm sẽ chỉ được đưa ra thị trường từ sau tháng 11. Mặc dù lượng mưa tích lũy thấp hơn trung bình, nhờ diện tích canh tác được mở rộng, sản lượng cà phê của Việt Nam được dự báo duy trì ổn định ở mức 30,5 triệu bao.

Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO) dự báo, sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2025 - 2026 tăng 4,4% so với cùng kỳ, đạt mức kỷ lục 183,6 triệu bao. Trong khi đó, tiêu thụ toàn cầu ước tính giảm 0,9%, xuống 180,6 triệu bao, đánh dấu lần đầu tiên rơi vào trạng thái dư cung sau 5 năm.

Diễn biến này cho thấy, áp lực nguồn cung đang tăng lên khi vụ thu hoạch tại Brazil đạt tiến độ cao và Việt Nam chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch mới. Tồn kho Robusta được chứng nhận trên sàn ICE cũng tăng, tạo thêm sức ép lên giá kỳ hạn.

Các chuyên gia nhận định, trong ngắn hạn, giá cà phê sẽ phản ánh sát lượng hàng Brazil đưa ra thị trường, tiến độ vụ mới tại Tây Nguyên và biến động trên hai sàn London, New York. Những yếu tố này sẽ quyết định liệu áp lực nguồn cung chỉ tạo ra các nhịp điều chỉnh ngắn hạn, hay hình thành một mặt bằng giá mới trong giai đoạn cuối năm.

Ở góc độ xuất khẩu, cà phê Việt Nam đang có một năm tăng mạnh về lượng, nhưng giá trị không tăng tương ứng. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 9 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,44 triệu tấn cà phê, tăng 15,4% về lượng so với cùng kỳ, nhưng kim ngạch giảm 7,3%, đạt khoảng 6,54 tỷ USD. Nguyên nhân chính là giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%.

Trước đó, trong 8 tháng năm 2026, giá xuất khẩu cà phê bình quân đạt 4.542 USD/tấn. Xu hướng giảm giá đang khiến bài toán của ngành cà phê chuyển dần từ tăng sản lượng sang gia tăng tỷ lệ chế biến sâu, cà phê hòa tan, cà phê đặc sản và sản phẩm có giá trị cao.

Gia tăng giá trị từ chế biến sâu

Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), một trong những hướng đi rõ nhất để giảm phụ thuộc vào biến động của giá cà phê nhân là tăng chế biến sâu. Cà phê chế biến sâu chỉ sử dụng khoảng 8 - 10% lượng nguyên liệu, nhưng có thể đóng góp 17 - 18% kim ngạch xuất khẩu. Những con số này cho thấy, dư địa gia tăng giá trị còn rất lớn.

Một số doanh nghiệp như Intimex, Vĩnh Hiệp, Phúc Sinh đã tăng đầu tư vào chế biến, phát triển sản phẩm rang xay, cà phê hòa tan và xây dựng thương hiệu riêng.

Ông Nguyễn Nam Hải - Chủ tịch Vicofa nhấn mạnh, nếu chế biến sâu là cách để giữ lại nhiều hơn giá trị của hạt cà phê, thì việc chủ động về tiêu chuẩn và dữ liệu lại là cách để nâng vị thế trong chuỗi. Một yêu cầu ngày càng rõ nét là các tiêu chuẩn về sản xuất bền vững và truy xuất nguồn gốc, trong đó có Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).

Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để cà phê Việt Nam củng cố và gia tăng thị phần tại EU. Hiện hơn 30% diện tích cà phê trong nước có chứng chỉ sản xuất bền vững và khoảng 35 - 40% sản lượng có khả năng đáp ứng yêu cầu của EUDR. Các lô hàng đáp ứng yêu cầu có thể được trả giá cao hơn khoảng 50 USD/tấn so với cà phê thông thường.

Tuy nhiên, ông Hải cho biết, chế biến sâu đang gặp hai rào cản lớn là vốn và thị trường. Một hệ thống sản xuất cà phê hòa tan công suất khoảng 3.000 tấn/năm có thể cần vốn đầu tư tới 30 triệu USD. Đây là khoản đầu tư lớn đối với nhiều doanh nghiệp. Trong khi đó, nếu chưa có thị trường đủ rộng, doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư nhà máy, mở rộng công suất và xây dựng thương hiệu. Do đó, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí phù hợp, nhất là các dự án có phương án sản xuất, thị trường và khả năng hoàn vốn rõ ràng.

Bên cạnh vốn, thị trường là điều kiện quyết định. Vì vậy, xúc tiến thương mại cần được mở rộng, không chỉ tập trung vào thị trường truyền thống, mà cần hướng tới thị trường mới. Khi thị trường được mở rộng, doanh nghiệp có thêm cơ sở để đầu tư vào sản phẩm chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và nâng tỷ trọng giá trị gia tăng trong xuất khẩu.

Đức Việt

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/tang-che-bien-sau-nang-gia-tri-ca-phe-viet-204877-204877.html