Tăng tốc để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm từ 10%

Trao đổi với báo chí về kết quả tăng trưởng GDP, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê nhấn mạnh: Để về đích với mục tiêu từ 10% theo Nghị quyết của Quốc hội, quý IV đối mặt áp lực tăng trưởng rất lớn, đòi hỏi các nguồn lực phải nhanh chóng chuyển hóa thành sản lượng và giá trị thực tế.

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê. (Ảnh: PV)

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê. (Ảnh: PV)

Điểm tựa từ các trụ cột tăng trưởng

Phóng viên: Thưa bà, bức tranh kinh tế 9 tháng ghi nhận mức tăng trưởng bứt phá 9,01%, trong đó quý III áp sát mốc hai con số (9,95%). Xin bà chỉ rõ đâu là những trụ kéo thực chất đã tạo nên tăng trưởng mạnh mẽ?

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Kinh tế Việt Nam quý III/2026 đã ghi nhận kết quả tăng trưởng tích cực với tốc độ tăng GDP ước đạt 9,95%, cao hơn 1,82 điểm phần trăm so mức tăng 8,13% cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng, GDP ước tăng 9,01%, cao hơn 1,20 điểm phần trăm so mức tăng 7,80% cùng kỳ năm 2025. Đà tăng trưởng tiếp tục được củng cố, với công nghiệp và xây dựng tăng cao, dịch vụ mở rộng và nông, lâm nghiệp, thủy sản duy trì ổn định.

Giá trị tăng thêm của ba khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ trong quý III ước tăng lần lượt 4,21%, 12,50% và 9,54% đóng góp 0,52; 5,22 và 4,38 điểm %; tính chung 9 tháng, tăng 4,02%, 11,21% và 8,69% đóng góp 0,49, 4,53 và 4,12 điểm %.

Động lực tăng trưởng nổi bật từ công nghiệp chế biến, chế tạo; đầu tư, xây dựng, thương mại, tài chính, vận tải và một số hoạt động dịch vụ. Sự kết hợp này phản ánh nền kinh tế tiếp tục phục hồi, duy trì được nhịp tăng trưởng, thể hiện kết quả của những nỗ lực lớn trong điều hành và tinh thần vượt khó của cả nền kinh tế.

Kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ đạt 9,01%. (Ảnh minh họa: ĐỖ BẢO)

Kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ đạt 9,01%. (Ảnh minh họa: ĐỖ BẢO)

Có thể thấy tăng trưởng kinh tế quý III và 9 tháng được nâng đỡ bởi ba động lực liên kết với nhau: Đầu tư công tạo thêm khối lượng sản xuất; công nghiệp và xuất khẩu mở rộng đầu ra; tiêu dùng trong nước duy trì nhịp tăng của thương mại, dịch vụ.

Thứ nhất, đầu tư công trở thành động lực chính mang tính dẫn dắt trong quý III với tiến độ giải ngân được cải thiện so cùng kỳ, đặc biệt ở các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính lan tỏa cao. Việc đẩy mạnh giải ngân trong quý III không chỉ trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng ngành xây dựng và các ngành liên quan, mà còn tạo hiệu ứng “kéo” đối với đầu tư khu vực tư nhân, qua đó cải thiện năng lực sản xuất và kết nối hạ tầng trong trung và dài hạn.

Thứ hai, sản xuất và xuất khẩu tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, phản ánh sức chống chịu và năng lực thích ứng của nền kinh tế trong bối cảnh cầu thế giới phục hồi chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì đà tăng trưởng tốt kể từ quý I, cho thấy sự phục hồi của hoạt động sản xuất và năng lực cung ứng trong nước. Hoạt động xuất khẩu tiếp tục diễn ra sôi động, tạo điểm tựa vững chắc cho hoạt động sản xuất trong nước.

Thứ ba, tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình có xu hướng cải thiện, đóng vai trò ổn định tổng cầu, góp phần nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài. Sức cầu trong nước có xu hướng cải thiện, được thúc đẩy bởi yếu tố mùa vụ và sự gia tăng nhu cầu đối với các hoạt động dịch vụ, đặc biệt là du lịch, lưu trú và giải trí trong quý II.

Đồng thời, cơ cấu tiêu dùng đang chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, phản ánh sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng và góp phần thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế theo chiều sâu.

Bên cạnh các động lực truyền thống, các động lực tăng trưởng mớinhư khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đang được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, từng bước thâm nhập vào các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao.

Tuy nhiên, ở giai đoạn hiện nay, các động lực này chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ, chưa thực sự trở thành lực kéo chính cho tăng trưởng. Việc chuyển hóa các yếu tố này thành động lực dẫn dắt đòi hỏi thời gian, cùng với những cải cách đồng bộ về thể chế, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Các động lực tăng trưởng mới như khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đang được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, từng bước thâm nhập vào các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao. Tuy nhiên, ở giai đoạn hiện nay, các động lực này chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ, chưa thực sự trở thành lực kéo chính cho tăng trưởng.

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh

Phóng viên: Để hiện thực hóa mục tiêu cả năm tăng trưởng từ 10% trở lên theo Nghị quyết của Quốc hội, GDP quý IV cần bứt tốc khoảng 12,5% - mức tăng kỷ lục so nhiều năm qua. Cơ quan thống kê nhận diện đâu là những áp lực lớn nhất trong 3 tháng cuối năm?

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Quốc hội đặt mục tiêu GDP năm 2026 phấn đấu tăng từ 10% trở lên. Trên cơ sở kết quả 9 tháng tăng 9,01%, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm, GDP quý IV cần tăng khoảng 12,5% (cao hơn khoảng 4,1 điểm % so quý IV/2025). Đây được xem là mục tiêu khó khăn và rất áp lực. Một số áp lực lớn về phát triển kinh tế trong 3 tháng cuối năm được nhìn nhận như sau:

Áp lực về điều hành kinh tế vĩ mô, biến động tỷ giá, giá năng lượng và nguyên liệu có thể làm tăng chi phí nhập khẩu, tạo sức ép lên giá trong nước. Điều hành quý IV cần bảo đảm vốn cho sản xuất, kinh doanh nhưng vẫn kiểm soát lạm phát và giữ ổn định các cân đối lớn.

Đầu tư công chịu áp lực về tiến độ thực hiện và hiệu quả chuyển hóa thành tăng trưởng. Những tháng cuối năm thường tăng tốc giải ngân, song vốn chỉ tác động trực tiếp tới GDP quý IV khi vốn đầu tư chuyển nhanh thành khối lượng xây dựng và năng lực sản xuất thực tế; Vướng mắc về mặt bằng, thủ tục điều chỉnh dự án, nguồn vật liệu hoặc năng lực nhà thầu có thể khiến vốn bố trí chưa chuyển kịp thành sản lượng của ngành xây dựng và các ngành cung ứng liên quan, như vậy tác động tới GDP quý IV sẽ bị chậm lại.

Biến động từ bên ngoài đặt áp lực lên công nghiệp và xuất khẩu. Với độ mở lớn của nền kinh tế, thay đổi về nhu cầu, chính sách thương mại và chuỗi cung ứng tại các thị trường lớn có thể tác động nhanh tới đơn hàng của ngành chế biến, chế tạo. Giá năng lượng và nguyên liệu biến động còn làm tăng chi phí sản xuất, vận tải. Vì vậy, thách thức của quý IV không chỉ là duy trì kim ngạch xuất khẩu, mà còn là giữ nhịp sản xuất và nâng phần giá trị gia tăng tạo ra trong nước.

Khu vực doanh nghiệp cũng tiếp tục chịu nhiều áp lực. Khu vực doanh nghiệp phải đồng thời ứng phó với chi phí và thị trường đầu ra. Đơn hàng, dòng tiền và chi phí logistics ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì công suất, nhất là ở doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, việc vốn tín dụng có sẵn chưa đủ để thúc đẩy tăng trưởng nếu doanh nghiệp thiếu đơn hàng hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.

Bốn nhóm giải pháp trọng tâm trong những tháng cuối năm

Phóng viên: Trước bài toán tăng trưởng đầy thách thức của quý IV, giải pháp trọng tâm nào cần được ưu tiên hàng đầu, thưa bà?

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Giải pháp quan trọng nhất là tháo gỡ điểm nghẽn để các nguồn lực hiện có tạo ra kết quả ngay trong quý IV.

Đẩy nhanh thực hiện đầu tư, nhất là các dự án có thể tạo khối lượng trong quý IV. Rà soát tiến độ từng dự án; giải quyết kịp thời vướng mắc về mặt bằng, thủ tục điều chỉnh, nguồn vật liệu và năng lực thi công. Trọng tâm là khối lượng xây dựng, lắp đặt thực hiện trong kỳ, đồng thời đẩy nhanh việc đưa công trình đã hoàn thành vào sử dụng.

Giữ nhịp sản xuất công nghiệp, đặc biệt là chế biến, chế tạo. Theo dõi đơn hàng, tồn kho và khả năng cung ứng nguyên liệu của các ngành xuất khẩu chủ lực để xử lý sớm khó khăn phát sinh. Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, giảm ách tắc trong vận chuyển và thông quan; tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đơn hàng duy trì công suất, hoàn thành sản phẩm và giao hàng đúng tiến độ.

Trọng tâm của quý IV là tăng tốc thực hiện: vốn đầu tư thành khối lượng công trình; đơn hàng thành sản phẩm được sản xuất, tiêu thụ; nhu cầu cuối năm thành khối lượng dịch vụ thực tế. Khả năng chuyển hóa đó sẽ quyết định mức đóng góp của ba tháng cuối năm vào tăng trưởng GDP năm 2026.

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh

Khai thác nhu cầu tiêu dùng và dịch vụ cuối năm. Bảo đảm nguồn cung, lưu thông hàng hóa; tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch phù hợp với nhu cầu thị trường; nâng chất lượng dịch vụ vận tải, lưu trú và các dịch vụ phục vụ khách. Hiệu quả cần được nhìn ở lượng hàng hóa tiêu thụ, lượt khách và khối lượng dịch vụ thực hiện, cùng với giá trị tăng thêm tạo ra, không chỉ ở doanh thu tăng do giá.

Tiếp tục thực hiện các giải pháp giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Theo dõi sát giá năng lượng, nguyên liệu, tỷ giá và mặt bằng giá để điều hành linh hoạt, tránh để chi phí tăng làm suy giảm sức mua và khả năng duy trì sản xuất.

Như vậy, trọng tâm của quý IV là tăng tốc thực hiện các nhiệm vụ như vốn đầu tư chuyển hóa thành khối lượng công trình; đơn hàng thành sản phẩm được sản xuất, tiêu thụ; nhu cầu cuối năm thành khối lượng dịch vụ thực tế. Khả năng chuyển hóa đó sẽ quyết định mức đóng góp của ba tháng cuối năm vào tăng trưởng GDP năm 2026.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!

TÔ HÀ-NHA TRANG

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/tang-toc-de-dat-muc-tieu-tang-truong-gdp-ca-nam-tu-10-post992823.html