Tăng trưởng 2026: Điểm tựa vĩ mô và bài toán đổi mới động lực
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động khó lường, tăng trưởng toàn cầu chậm lại, năm 2026 được xem là thời điểm bản lề, đòi hỏi Việt Nam không chỉ phục hồi mà còn phải bứt phá. Câu hỏi đặt ra không còn là 'tăng trưởng hay không', mà là 'tăng trưởng dựa trên nền tảng nào'.
Thực tế cho thấy, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với một nền tảng vĩ mô tương đối vững chắc – đây chính là điểm tựa quan trọng để hướng tới các mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững hơn.

Ảnh minh họa
Ổn định vĩ mô tạo lực đẩy cho tăng trưởng và đầu tư dài hạn
Nhìn lại giai đoạn 2021–2025, bức tranh kinh tế Việt Nam nổi bật bởi khả năng chống chịu và thích ứng. Dù chịu tác động mạnh từ đại dịch, xung đột địa chính trị, lạm phát toàn cầu và xu hướng thắt chặt chính sách ở nhiều nền kinh tế lớn, tăng trưởng của Việt Nam vẫn duy trì đà phục hồi tích cực, năm sau cao hơn năm trước, nhiệm kỳ này tốt hơn nhiệm kỳ trước trên hầu hết các lĩnh vực.
Đáng chú ý, trong bối cảnh nhiều quốc gia bị hạ triển vọng tín nhiệm, Việt Nam vẫn duy trì xếp hạng BB+, Ba2 với triển vọng “Ổn định” theo đánh giá của Fitch, S&P và Moody’s. Điều này phản ánh niềm tin của các tổ chức quốc tế vào năng lực điều hành kinh tế vĩ mô và triển vọng trung – dài hạn của nền kinh tế Việt Nam.
Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi, chính sự ổn định vĩ mô và triển vọng phát triển dài hạn đã trở thành “chiếc mỏ neo” an toàn, củng cố niềm tin cho doanh nghiệp, người dân và nhà đầu tư trong việc mở rộng sản xuất, kinh doanh.
"Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt mức cao, giai đoạn 2021–2025, bình quân khoảng 6,3%, cao hơn nhiệm kỳ trước. Nếu không tính năm 2021 chịu tác động nặng nề của đại dịch, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2022–2025 sẽ đạt 7,13%, cao hơn mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm. Kể cả trong thời điểm phải đối mặt với nhiều khó khăn do chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ thì tăng trưởng năm 2025 chúng ta vẫn đạt mức 8,02%, là tăng mức trưởng dẫn đầu khu vực và thuộc nhóm cao nhất thế giới", ông Chi nói.
Đóng góp quan trọng cho kết quả này là chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt, thận trọng, cùng định hướng tín dụng tập trung vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng thực. Dòng vốn ngân hàng không dàn trải mà ưu tiên cho sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết: "Tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các lĩnh lực ưu tiên. Theo đó, khoảng 78% dư nợ nền kinh tế là phục vụ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Hai nhóm lĩnh vực ưu tiên có tỷ trọng dư nợ tín dụng lớn, là nông nghiệp nông thôn chiếm 22,42% và doanh nghiệp nhỏ và vừa là 19,11%. Trong nhóm các lĩnh vực ưu tiên thì 2 nhóm có tốc độ tăng trưởng rất cao, là tín dụng cho lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ứng dụng công nghệ cao, có tốc độ tăng trưởng lần lượt là 27,46% và 30,36%".
Gỡ “nút thắt” cơ cấu để giữ đà tăng trưởng bền vững
Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng tích cực là những điểm nghẽn mang tính cơ cấu. Việc triển khai Nghị quyết số 31 của Quốc hội về cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021–2025 cho thấy một thực tế: tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động, trong khi các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng chưa đạt kỳ vọng.
Bà Lê Thị Mai Liên, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện chiến lược và chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính cho biết: "Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân, mục tiêu 6,5% nhưng thực tế chỉ đạt 5,23%, chỉ tiêu tỷ trọng chi cho khoa học công nghệ trên GDP mục tiêu 0,8-1% nhưng đến 2023 mới đạt 0,42%".

Ảnh minh họa
Phân tích sâu hơn cho thấy, cơ cấu đầu tư công hiện nay còn thiên lệch mạnh về hạ tầng. Khoảng 80% vốn đầu tư công tập trung vào lĩnh vực này, trong khi các lĩnh vực có khả năng tạo đột phá về Năng suất các nhân tố tổng hợp – TFP như khoa học – công nghệ, giáo dục, y tế vẫn chiếm tỷ trọng thấp. Điều này khiến dư địa tăng trưởng theo chiều sâu chưa được khai thác hiệu quả.
Từ kinh nghiệm quốc tế, nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam cần sớm điều chỉnh lại cách phân bổ nguồn lực công. TS. Cấn Văn Lực, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia nhấn mạnh: "Quốc tế thì các nước thông thường đầu tư cơ sở hạ tầng 55-60%, chúng ta đầu tư 80% là rất lớn, tất nhiên ta chưa phát triển nhưng 80% hợp lý chưa? Cần tính toán thêm. Các nước đầu tư khá nhiều cho giáo dục đào tạo 20%, y tế 10-12%, khoa học công nghệ 4-5%, chúng ta đang yêu cầu 3%".
Trong bối cảnh đặt mục tiêu tăng trưởng cao cho giai đoạn tới, thậm chí hướng tới mức hai chữ số, yêu cầu đặt ra không chỉ là “đầu tư nhiều hơn”, mà là “đầu tư hiệu quả hơn”. Theo các chuyên gia, tái cơ cấu đầu tư công phải gắn chặt với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ khâu chuẩn bị dự án đến triển khai và vận hành.
Khuyến nghị từ ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia Kinh tế trưởng của Văn phòng Ngân hàng Phát triển châu Á - ADB tại Việt Nam: "Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là cách để nâng cao sức hút huy động vốn, thì có thể tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, đầu tư công chuẩn bị dự án tốt hơn, đưa dự án vận hành càng nhanh càng tốt, làm chậm càng tăng giá vật liệu, nhân công…".
Song song với đó, một trụ cột không kém phần quan trọng là đổi mới tư duy huy động nguồn lực cho tăng trưởng. Khi tín dụng ngân hàng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư, việc phát triển mạnh thị trường vốn – đặc biệt là cổ phiếu và trái phiếu dài hạn – sẽ giúp giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng và tạo kênh dẫn vốn bền vững hơn. Đây chính là hai trụ cột then chốt – tái cơ cấu đầu tư công theo chiều sâu và phát triển thị trường vốn – để kinh tế Việt Nam duy trì tăng trưởng cao, ổn định và bền vững trong năm 2026 và những năm tiếp theo.












