Tạo đột phá trong quản lý cửa khẩu, biên giới từ chuyển đổi số
Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, Bộ đội Biên phòng đang chủ động đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông minh tại các cửa khẩu và trên các tuyến biên giới, tạo thuận lợi cho hoạt động lưu thông qua cửa khẩu, đồng thời giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới.

Cán bộ Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Móng Cái, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ninh điều hành hệ thống cổng kiểm soát xuất nhập cảnh tự động cho công dân và du khách. Ảnh: Hoàng Phong
Đột phá từ số hóa quy trình quản lý cửa khẩu
Quán triệt các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp công nghệ trong quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh và bảo vệ biên giới quốc gia. Đây được xác định là một trong những khâu đột phá nhằm đổi mới phương thức chỉ huy, điều hành, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác biên phòng trong tình hình mới.
Thiếu tướng Đỗ Ngọc Toàn, Cục trưởng Cục Cửa khẩu Bộ đội Biên phòng khẳng định: “Ứng dụng công nghệ thông tin là yêu cầu tất yếu. Chúng tôi xác định rõ, chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà còn là yếu tố quyết định nâng cao chất lượng quản lý, điều hành và kiểm soát tại cửa khẩu”.
Thực tế cho thấy, hệ thống phần mềm quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh theo mô hình dữ liệu tập trung đã tạo bước tiến quan trọng trong quản lý cửa khẩu. Hệ thống được kết nối đồng bộ từ Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đến các cửa khẩu, liên thông với cơ sở dữ liệu của lực lượng Công an, bảo đảm thông tin được cập nhật theo thời gian thực, phục vụ hiệu quả công tác chỉ huy, điều hành.
Cùng với đó, thủ tục biên phòng điện tử theo Cơ chế một cửa quốc gia đã góp phần cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính. Người dân, doanh nghiệp có thể khai báo trực tuyến, nhận kết quả nhanh chóng mà không phải nộp hồ sơ giấy. Đối với tàu thuyền, nhiều thủ tục được hoàn thành trước khi tàu cập cảng, giúp giảm đáng kể thời gian chờ, tiết kiệm chi phí neo đậu, đi lại.
Việc ứng dụng chữ ký số, mã vạch trong kiểm soát giấy phép cũng rút ngắn thời gian xử lý từ khoảng 3 phút xuống còn khoảng 30 giây mỗi lượt. Hệ thống cổng kiểm soát tự động ứng dụng công nghệ nhận diện sinh trắc học được triển khai tại nhiều cửa khẩu trọng điểm, giúp giảm thời gian kiểm soát xuất nhập cảnh từ khoảng 40 giây xuống còn 13-15 giây mỗi lượt người. Những kết quả đó không chỉ tạo chuyển biến trong công tác quản lý cửa khẩu, mà còn góp phần xây dựng môi trường thông thoáng, minh bạch, thúc đẩy thương mại, du lịch và giao lưu quốc tế.
Từ thực tiễn cơ sở đến xây dựng “cửa khẩu thông minh”
Tại Trạm Kiểm soát Biên phòng cửa khẩu quốc tế Bắc Luân, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Móng Cái, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ninh, nhiều hệ thống công nghệ hiện đại đã được đưa vào khai thác hiệu quả. Từ hệ thống camera giám sát, phần mềm quản lý dữ liệu xuất nhập cảnh đến cổng kiểm soát tự động đều góp phần nâng cao năng lực kiểm soát, giảm tải áp lực cho cán bộ, chiến sĩ. Đại úy Trần Thế Huy, Trạm trưởng Trạm Kiểm soát Biên phòng cửa khẩu quốc tế Bắc Luân cho biết: “Trước đây, việc kiểm soát chủ yếu dựa vào thao tác thủ công, vừa mất thời gian, vừa dễ xảy ra sai sót. Hiện nay, nhờ ứng dụng công nghệ, việc kiểm tra, đối chiếu thông tin được thực hiện nhanh chóng, chính xác, giúp xử lý công việc hiệu quả hơn, đồng thời phát hiện kịp thời các trường hợp nghi vấn”.
Thực tiễn tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái cho thấy, công nghệ không chỉ giúp rút ngắn thời gian làm thủ tục, mà còn hỗ trợ hiệu quả công tác phòng, chống vi phạm pháp luật. Hệ thống nhận diện khuôn mặt, đối chiếu dữ liệu giúp phát hiện các trường hợp sử dụng giấy tờ giả, xuất nhập cảnh trái phép; hệ thống giám sát hỗ trợ kiểm soát chặt chẽ hoạt động qua lại tại khu vực cửa khẩu.
Điểm đáng chú ý là việc xây dựng “cửa khẩu thông minh”, “biên giới số” hiện nay kế thừa từ quá trình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất nhập cảnh đã được lực lượng Bộ đội Biên phòng triển khai trong nhiều năm qua. Trước khi chuyển đổi số được triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, Bộ đội Biên phòng đã từng bước đưa vào vận hành các phần mềm quản lý dữ liệu tập trung, thủ tục biên phòng điện tử, hệ thống camera giám sát, cổng kiểm soát xuất nhập cảnh tự động ứng dụng công nghệ nhận diện sinh trắc học... Qua đó, tạo nền tảng quan trọng để triển khai mô hình cửa khẩu thông minh hiện nay.
Trên cơ sở đó, mô hình "cửa khẩu thông minh" đang được thí điểm tại một số địa phương biên giới đã tạo ra bước phát triển mang tính đột phá trong quản lý cửa khẩu theo hướng hiện đại, đồng bộ và tự động hóa. Tại tỉnh Lạng Sơn, mô hình "cửa khẩu thông minh" ở cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị và cửa khẩu Tân Thanh đã tích hợp hệ thống camera giám sát 24/7, trí tuệ nhân tạo, nhận diện biển số phương tiện, nhận diện khuôn mặt và phương tiện vận chuyển tự hành. Nhờ đó, thời gian thông quan hàng hóa giảm mạnh, góp phần giảm ùn tắc, giảm chi phí logistics, hạn chế hư hỏng hàng hóa và nâng cao năng lực thông quan.
Không chỉ tại tỉnh Lạng Sơn, việc triển khai mô hình "cửa khẩu thông minh" tại các địa phương biên giới khác cũng đang cho thấy hiệu quả rõ nét trong kết nối, chia sẻ dữ liệu liên ngành giữa Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Công an, Kiểm dịch và các lực lượng chức năng. Dữ liệu được liên thông, cập nhật theo thời gian thực giúp nâng cao năng lực giám sát, kịp thời phát hiện các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, xuất nhập cảnh trái phép, đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, thương mại và giao lưu quốc tế.
Theo Thiếu tướng Đỗ Ngọc Toàn, mô hình "cửa khẩu thông minh" giúp giảm thời gian thông quan, tăng cường khả năng giám sát, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng. Đây là nền tảng quan trọng để tiến tới xây dựng "biên giới số".
Từ “cửa khẩu thông minh” đến “biên giới số” là quá trình chuyển đổi dựa trên dữ liệu liên thông, thống nhất. Khi dữ liệu được kết nối qua trục liên thông quốc gia, bảo đảm an toàn, bảo mật và chia sẻ theo thời gian thực, công tác phối hợp giữa các lực lượng sẽ ngày càng chặt chẽ, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm. Thực tế triển khai cho thấy, thời gian thông quan hàng hóa tại các cửa khẩu trọng điểm đã giảm mạnh, góp phần giảm chi phí logistics, hạn chế ùn tắc và thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực biên giới.
Song song với đầu tư hạ tầng kỹ thuật, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực số cũng được Bộ đội Biên phòng chú trọng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ không chỉ vững nghiệp vụ biên phòng, mà còn phải sử dụng thành thạo công nghệ, có khả năng phân tích, xử lý dữ liệu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong môi trường số.











