Tạo nguồn nhân lực bảo tồn di sản
Cần một đội ngũ nhân lực đủ về số lượng, đa dạng về chuyên ngành và chuyên sâu về nghiệp vụ để quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị di sản là yêu cầu được đặt ra, nhất là trong những lĩnh vực đặc thù như khảo cổ, trùng tu tháp Chăm, bảo quản hiện vật, kỹ thuật vật liệu và số hóa di sản.

Tận dụng kinh nghiệm và chuyên môn của các chuyên gia nước ngoài góp phần hoàn thiện đội ngũ nhân lực cho ngành văn hóa.TRONG ẢNH: Chuyên gia Ấn Độ tham gia trùng tu tháp Chăm tại Mỹ Sơn. Ảnh: VĨNH LỘC
Cần cán bộ chuyên môn sâu
Tháng 8 vừa qua, Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa thế giới Hội An phải cử cán bộ mang hiện vật bằng giấy ra Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Hà Nội) nhờ xử lý. Lý do, bởi đây là nơi có đội ngũ chuyên môn sâu cùng thiết bị phù hợp mà đơn vị không có.
Ông Phạm Phú Ngọc, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa thế giới Hội An cho hay, đơn vị hiện có hơn 200 cán bộ, viên chức thuộc nhiều lĩnh vực như bảo tồn, bảo tàng, văn hóa, du lịch. Riêng nhóm chuyên ngành kỹ thuật có hơn 20 người, tuy nhiên với một số nhiệm vụ đặc thù, yêu cầu chuyên môn cao, trung tâm vẫn phải phối hợp hoặc nhờ sự hỗ trợ của các đơn vị chuyên ngành.
“Rất khó để một cơ quan có thể tuyển dụng đầy đủ chuyên ngành phù hợp với yêu cầu công việc, nên một số lĩnh vực, cán bộ phải vừa làm vừa tích lũy kinh nghiệm, đồng thời được bồi dưỡng thông qua các chương trình tập huấn, đào tạo hằng năm”, ông Ngọc chia sẻ.
Thực tế này cho thấy, bài toán nhân lực di sản không chỉ nằm ở số lượng cán bộ, mà quan trọng hơn là cơ cấu chuyên môn và khả năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng đa dạng của công việc. Một di tích kiến trúc cần chuyên gia kiến trúc, khảo cổ, xây dựng, vật liệu; hiện vật giấy, vải, gỗ, kim loại lại đòi hỏi những chuyên ngành bảo quản khác nhau.
Tương tự, quá trình số hóa di sản đặt ra thêm nhu cầu về công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu, hình ảnh 3D và các kỹ năng kỹ thuật số... Với Đà Nẵng, yêu cầu này càng rõ nét khi không gian quản lý di sản trải rộng từ đô thị, biển đến khu vực miền núi, cần phương thức bảo tồn và yêu cầu nhân lực riêng. Ông Huỳnh Đình Quốc Thiện, Giám đốc Bảo tàng Đà Nẵng nhìn nhận, đây là vấn đề mà nhiều cơ quan, đơn vị quản lý văn hóa đang đối mặt.
Nhằm đáp ứng yêu cầu công việc, các đơn vị phải tận dụng nguồn nhân lực tại chỗ, tổ chức bồi dưỡng, đào tạo theo hình thức “nghề dạy nghề”, tích lũy kinh nghiệm qua thực tiễn… “Lâu nay, nhiều người vẫn nghĩ ngành văn hóa chỉ cần những cán bộ chuyên ngành xã hội, nhân văn, bảo tồn, bảo tàng. Nhưng thực tế đây là lĩnh vực đa ngành, từ kiến trúc, xây dựng, công nghệ thông tin đến hóa chất, sinh học... đều cần cán bộ chuyên ngành kỹ thuật. Đằng sau mỗi công trình, hiện vật hay không gian văn hóa được bảo tồn đều cần sự tham gia của nhiều nhóm ngành chuyên môn. Vì vậy, nếu chỉ nhìn nhân lực di sản trong phạm vi cán bộ văn hóa, bảo tồn hay bảo tàng sẽ khó đáp ứng yêu cầu thực tế”, ông Thiện nói.
Mở hướng đào tạo thế hệ kế cận
Không chỉ các đơn vị chuyên ngành thiếu cán bộ chuyên môn sâu, tại các xã, phường, tình trạng này càng cấp thiết. Không ít nơi cán bộ phụ trách văn hóa chưa được đào tạo chuyên sâu hoặc phải đảm nhiệm nhiều lĩnh vực, dẫn đến những hạn chế trong các vấn đề liên quan đến di tích, hiện vật hay hồ sơ khoa học.
Ông Nguyễn Công Khiết, Giám đốc Ban Quản lý Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn cho rằng, nguyên nhân chủ yếu do chỉ tiêu biên chế hạn hẹp, khiến các cơ quan, đơn vị khó tuyển dụng cán bộ theo từng lĩnh vực chuyên biệt. Dù Ban Quản lý Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn là đơn vị tự chủ kinh phí, nhưng việc tuyển dụng nhân lực chuyên ngành bảo tồn, trùng tu tháp Chăm vẫn không dễ dàng; nhất là những lĩnh vực đặc thù như khảo cổ, trùng tu tháp Chăm. Bởi đây không phải là lĩnh vực có thể đào tạo trong thời gian ngắn, mà đòi hỏi quá trình tích lũy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực địa lâu dài.
Theo ông Tô Chí Vinh, Giám đốc Công ty TNHH MTV Thiết kế và xây dựng Mỹ Gia, thành phố Đà Nẵng hiện có nhiều di tích, phế tích Chăm nhưng đội ngũ chuyên gia và kỹ thuật chuyên ngành còn thiếu. “Hiện nay chưa có trường đại học đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật trùng tu tháp Chăm. Cán bộ kỹ thuật chủ yếu làm việc dựa trên kinh nghiệm kết hợp các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn về trùng tu”, ông Vinh nói.
Cũng theo ông Vinh, các trường đại học tại Đà Nẵng và khu vực miền Trung có thể nghiên cứu mở những chuyên ngành đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật trùng tu tháp Chăm. Đồng thời tăng cường hợp tác với các chuyên gia quốc tế đã và đang tham gia các dự án bảo tồn di sản tại Đà Nẵng, nhằm tận dụng kinh nghiệm, phương pháp và giải pháp kỹ thuật; qua đó không chỉ giúp cung cấp nhân lực cho các dự án bảo tồn trước mắt mà còn tạo nguồn cán bộ kế cận cho công tác bảo tồn lâu dài.
Ông Phạm Phú Ngọc cho rằng, không thể áp dụng cơ cấu nhân sự chung cho tất cả đơn vị, bởi mỗi bảo tàng, trung tâm bảo tồn, ban quản lý di tích hay địa phương có đặc thù khác nhau. Cùng với đó, cần quan tâm hơn đến việc thu hút sinh viên các ngành phù hợp vào lĩnh vực di sản như hóa học, sinh học, vật liệu, kiến trúc, xây dựng, công nghệ thông tin...
Nguồn nhân lực di sản không chỉ là những người trực tiếp “giữ di tích”, đó còn là đội ngũ nghiên cứu, khảo cổ, kiến trúc, kỹ thuật, bảo quản, số hóa, truyền thông, giáo dục di sản và những người am hiểu văn hóa cộng đồng. Đặc biệt, trong quá trình phát huy giá trị di sản gắn với du lịch và công nghiệp văn hóa, nhân lực có khả năng kết nối giữa bảo tồn và phát triển càng trở nên cần thiết. Khi có đội ngũ đủ năng lực nhận diện, nghiên cứu, bảo tồn và kể lại những giá trị văn hóa của vùng đất, những di sản đang được trao truyền hôm nay mới có thêm cơ hội được gìn giữ bền vững cho mai sau.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/tao-nguon-nhan-luc-bao-ton-di-san-3352481.html

