Thăm Cố cung Bắc Kinh
HNN - Tháng Tám, nắng hạ tràn trề. Sau năm ngày đồng hành, Lý Nhược Tình, sinh viên năm thứ hai Trường Đại học Bắc Kinh hỏi tôi: “Mùa này Bắc Kinh nóng nhất trong năm, chị có mệt không?”, tôi cười: “Cảm ơn em, chị quen rồi. Huế cũng nắng nóng như ở đây”. Từ Huế đến thăm Bắc Kinh, hai cố đô của hai đất nước đồng văn, có bao điều tôi đã từng học, xem, đọc và nay được “chạm” vào. Cả những điều mới mẻ, bình dị, nhỏ bé do chính mình cảm nhận cũng mang lại một niềm vui riêng.

Hàng cây hòe trên đường phố Bắc Kinh.
Chạm vào Bắc Kinh xanh
Đường cao tốc từ sân bay quốc tế Bắc Kinh vào trung tâm thành phố đi xuyên qua rừng phong. Mùa này, lá phong còn xanh, một màu xanh lục rất sáng trời và dịu mát. Xe đi mê mải trong rừng, Bắc Kinh là “Thành phố rừng toàn vùng” với tỷ lệ che phủ cây xanh 50%.
Càng đi vào trung tâm, những tòa nhà cao, vuông vức dần hiện ra, dày đặc và rất cũ. Không còn rừng cây nhưng nếu bạn rẽ vào bất cứ con đường nào, cũng bắt gặp hai hàng cây xanh mát bên đường. Cây cao đến tầng thứ hai của tòa nhà, tán lá giao nhau nhìn xa như một chiếc dù thiên nhiên che mát con đường. Phố bỗng mang vẻ đẹp hiền hòa, dịu dàng và thanh sạch. Vỉa hè ở Bắc Kinh rất rộng và trồng nhiều nhất là cây hòe. Phố nào cũng trồng hòe. Lác đác có vài cây hòe ra bông sớm, sắc hoa vàng nhạt mỏng manh. Anh bạn nhà thơ Lê Thiếu Nhơn đọc ngay một câu thơ trong bài “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi: “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương” làm mọi người ồ lên thán phục trí nhớ của anh.
Thăm Cố cung tôi mới cảm nhận hết được vẻ đẹp yêu kiều của cây liễu rũ bên hộ thành hào ở Tử Cấm Thành. Thời sinh viên khoa Văn, khi học điển tích “Liễu Chương đài”, chúng tôi từng xúc động trước lời Hàn Hoằng - một thi nhân đời Đường: “Chương Đài Liễu, Chương Đài Liễu/ Xưa xanh xanh biếc hỏi nay có còn” thì tiếng gọi cố nhân tha thiết ấy cùng hình ảnh cây liễu đã đi vào lòng chúng tôi. Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du cũng sử dụng điển tích này: “Khi về hỏi Liễu Chương Đài/ Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay”. Cây liễu rũ ở Tử Cấm Thành, một sớm ngày hè xõa tóc xanh bên hồ đã gợi cả một trời liên tưởng trong tôi như thế.
Một loài cây được trồng nhiều ở Tử Cấm Thành và những nơi thờ tự trang nghiêm ở Bắc Kinh đó là cây bách. Trong chuyến đi này, tôi may mắn được ngắm cây trắc bách diệp 1.100 năm tuổi ở đền thờ thần Mặt trời (Nhật đàn). Cây có chín nhánh xòe ra nên còn gọi là “Cửu Long”.
Ở Bắc Kinh, những cây trên 100 năm tuổi sẽ được gắn biển màu xanh, cây trên 300 năm tuổi sẽ gắn biển màu đỏ. Tất cả đều được chống đỡ, rào chắn cẩn thận. Trong văn hóa Trung Quốc, cây hòe tượng trưng cho sự giàu sang, phú quý, thịnh vượng của gia tộc; cây liễu là sự mềm mại, vẻ đẹp của người phụ nữ, tình ý hoài niệm và sự chia ly, tiễn biệt; cây bách gắn với sự trường thọ, tôn nghiêm, chính trực và kiên cường. Cây cũng là một dấu xanh trong lịch sử phát triển của thành phố.
Trong chuyến đi này, chúng tôi có ghé thăm nhà lưu niệm hai nhà văn lớn của Trung Quốc ở Bắc Kinh là Lỗ Tấn và Lão Xá. Trong sân nhà Lão Xá là hai cây hồng, trái non lấp ló trong lá; trong sân nhà Lỗ Tấn là hàng cây tử đinh hương, cành lá chạm vai người như thay lời chào gặp mặt.
Lý Nhược Tình kể cho tôi nghe về những con đường xanh ở đây. Tôi cũng kể về cây xà cừ cổ thụ hơn trăm năm tuổi của Huế đã được cứu sống sau cơn bão lớn và con đường đi bộ trong rừng cây ven sông Hương và rất nhiều những con đường xanh ở Huế.

Cây bách trên 300 tuổi ở Tử Cấm Thành.
Gạch đá cũng giữ màu tháng năm
Khoảng sân đại triều rộng mênh mông trước điện Thái Hòa, những viên gạch lát nền dưới chân kể cho tôi nghe một câu chuyện: Để đề phòng thích khách đào đường ngầm ám sát Hoàng đế, người ta lót sân dày đến 15 lớp gạch. Tử Cấm Thành là nơi ở của 24 vị Hoàng đế của hai triều Minh - Thanh nên được bảo vệ nghiêm ngặt. Mỗi công trình ở đây đều cao lớn, trang trí tỉ mỉ, công phu, như một sự thị uy. Tôi ngắm cây bách trên 300 năm tuổi, nhìn mái cung điện ánh vàng lên dưới nắng, nghĩ về những con người đã từng sống ở đây, hạnh phúc hay bi kịch, niềm vui hay nỗi buồn, lễ nghi yến tiệc hay hiu hắt đèn đêm, đã từng bày ra hay chôn kín ở đây, tất cả đã qua rồi, như một áng mây.
Từ năm 1925, Cố cung trở thành Bảo tàng, đón du khách trên khắp thế giới đến tham quan. Hơn một trăm năm, bao điều bí ẩn của Tử Cấm Thành đã được người ta nhắc đến. Nhưng đất nước Trung Hoa có “một nền văn minh với vô vàn ẩn số” vẫn mãi là lực hấp dẫn để mỗi người tự tìm hiểu và khám phá.
Đứng giữa quần thể kiến trúc rộng lớn này, điều khiến tôi nghĩ đến đầu tiên là tài năng của những người thợ thuở trước. Hơn 600 năm tồn tại, Cố cung Bắc Kinh chưa bao giờ bị ngập. Người ta dựa vào địa hình dốc tự nhiên để xây dựng công trình, lại xây thêm đường rãnh để thu nước mưa, dẫn tất cả nước bề mặt chảy ra các sông lớn. Chỉ những đầu rồng bằng đá cẩm thạch được chạm khắc tinh xảo, vừa dùng để trang trí vừa để thoát nước. Chu Tịch Nhân - cô sinh viên ngành ngôn ngữ tiếng Việt, sắp sang Hà Nội học cao học - cho biết: “Có hàng ngàn đầu rồng như thế này. Khi trời mưa to nước sẽ phun ra từ các đầu rồng tạo nên cảnh tượng rất đẹp mà người ta thường gọi là “thiên long thổ thủy”. Đúng là vừa chống ngập vừa đẹp ý phong thủy.
Một ẩn số nữa là ông kiến trúc sư người Việt: Nguyễn An. Ông bị bắt sang Trung Quốc năm 1407 và được lệnh xây cửa thành lầu Tử Cấm Thành. Khó khăn nhất là vận chuyển những tảng đá lớn, ông cho đào dọc đường nhiều giếng nước, rồi múc nước đổ ra đường. Mùa đông Bắc Kinh rất lạnh, qua một đêm nước đóng thành băng và ông dùng băng để trượt đá. Việc vận chuyển nhờ thế mà dễ dàng.
Trải qua sáu thế kỷ với nhiều biến động, chiến tranh và hỏa hoạn, Tử Cấm Thành nhiều lần được tu sửa nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp cổ xưa. Điều gì đã làm nên kết quả ấy? Họ đã duy trì tám ngành nghề thủ công truyền thống như mộc, nề, đá, lợp ngói, sơn mài, vẽ màu; ngay cả tay nghề cũng là truyền nghề thủ công theo kiểu sư phụ - đệ tử. Về vật liệu khi trùng tu hay sửa chữa bảo đảm đúng nguyên bản chủng loại, gạch và ngói nung theo chuẩn thời Minh - Thanh. Bài học bảo tồn Tử Cấm Thành là bài học chung cho tất cả các quốc gia có di sản lịch sử - văn hóa. Tiêu chí này, Huế đã thực hiện, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế có xưởng làm gạch, ngói, pháp lam, gỗ theo chuẩn của thời Nguyễn.
Năm 1987, Cố cung Bắc Kinh được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Với Quần thể di tích Cố đô Huế, năm 1993 UNESCO cũng trao danh hiệu này. Sự tôn vinh này chính là tôn vinh tinh hoa, tài năng của người Trung Quốc cũng như người Việt Nam đã xây nên những kiệt tác cho nhân loại.
Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/doi-song/tham-co-cung-bac-kinh-170331.html

