Tham vọng doanh nghiệp Nhà nước lọt Top 500 toàn cầu, ngành nào đủ sức vươn tầm?
Nghị quyết 79 đặt mục tiêu đến năm 2030 có 1-3 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lọt top 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Trong bối cảnh Việt Nam chưa có DNNN nào đạt được cột mốc này, câu hỏi đặt ra là ngành nào đủ tiềm lực để bứt phá và dẫn đường vươn tầm toàn cầu.
Đầu năm 2026, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, khẳng định kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có vai trò bảo đảm ổn định vĩ mô, duy trì các cân đối lớn, định hướng chiến lược phát triển và góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh.
Đáng chú ý, Nghị quyết cũng xây dựng lộ trình phát triển DNNN theo hướng nâng tầm khu vực và toàn cầu. Theo đó, đến năm 2030 phấn đấu có 50 Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1–3 DNNN lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; đến năm 2045, các mục tiêu này lần lượt nâng lên 60 doanh nghiệp và 5 doanh nghiệp.
Tháo gỡ các “điểm nghẽn”
Theo TS. Bùi Quý Thuấn, Trưởng Ban Nghiên cứu, Liên chi hội Tài chính Khu Công nghiệp Việt Nam, để một doanh nghiệp lọt vào top 500 toàn cầu, cần đáp ứng nhiều tiêu chí định lượng quan trọng. Trong đó, doanh thu tối thiểu thường phải đạt khoảng 30–35 tỷ USD/năm.
Đồng thời, doanh nghiệp không chỉ hoạt động trong phạm vi nội địa mà phải có năng lực cạnh tranh quốc tế, đủ sức đối đầu với các tập đoàn đa quốc gia có nền tảng công nghệ và lịch sử phát triển lâu đời. Bên cạnh đó, yếu tố thương hiệu và tính biểu tượng toàn cầu, cùng năng lực quản trị hiện đại cũng là điều kiện then chốt.
Theo đó, thực tế hiện nay Việt Nam chưa có doanh nghiệp nhà nước nào lọt vào danh sách Fortune Global 500. Một số DNNN lớn như Viettel, Petrolimex hay EVN mới chỉ có thể đứng trong nhóm 500–1.000 doanh nghiệp hàng đầu thế giới nếu xét theo một số tiêu chí, và vẫn còn cách khá xa ngưỡng top 500 về quy mô doanh thu.
“Để lọt top 500 toàn cầu gồm những tập đoàn khổng lồ như Apple, Nvidia, Saudi Aramco hay BYD, các DNNN Việt Nam cần tăng trưởng doanh thu gấp 2 - 3 lần trong vòng 5 - 10 năm tới và đòi hỏi tốc độ mở rộng vượt trội”, ông Thuấn nêu rõ.

TS. Bùi Quý Thuấn, Trưởng Ban Nghiên cứu, Liên chi hội Tài chính Khu Công nghiệp Việt Nam. (Nguồn: NVCC).
Trong bối cảnh đó, DNNN hiện vẫn chịu sự can thiệp của nhiều bộ, ngành. Một quyết định đầu tư lớn thường phải trải qua nhiều khâu, nhiều tầng nấc phê duyệt, làm chậm quá trình ra quyết định và đánh mất yếu tố thời điểm, mang tính sống còn trong hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó, cơ chế giám sát hiện nay còn nặng về “tiền kiểm” nhưng yếu về “hậu kiểm”. Việc giám sát chủ yếu tập trung vào tuân thủ quy trình, trong khi hiệu quả cuối cùng của dự án chưa được coi trọng đúng mức.
Điều này dẫn tới tâm lý sợ sai, né tránh rủi ro; chỉ cần dự án không thành công do biến động thị trường, lãnh đạo DNNN dễ bị quy trách nhiệm. Đồng thời, hệ thống đánh giá vẫn thiếu các chỉ số hiệu quả thực chất như giá trị gia tăng hay tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) để phản ánh đúng năng lực doanh nghiệp.
Về nguồn nhân lực, cơ chế tiền lương, đãi ngộ của DNNN hiện vẫn kém cạnh tranh so với khu vực tư nhân và các tập đoàn đa quốc gia, trong khi ranh giới giữa rủi ro kinh doanh và vi phạm pháp luật chưa đủ rõ ràng. Điều này khiến nhiều nhân sự giỏi lựa chọn khu vực tư nhân không gian sáng tạo lớn hơn và mức độ an toàn pháp lý cao hơn.
Vì vậy, để đạt được mục tiêu đề ra, Nghị quyết 79 đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn” đang làm hạn chế hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Trọng tâm là yêu cầu chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời tách bạch rõ chức năng sở hữu, chức năng quản lý nhà nước và nhiệm vụ chính trị.
Đặc biệt, cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm cũng được nhấn mạnh, với nguyên tắc phân định rạch ròi giữa rủi ro kinh doanh và vi phạm pháp luật, qua đó góp phần giảm tâm lý sợ sai trong đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp.
“Những định hướng này vừa thúc đẩy cải cách thể chế, minh bạch quản trị, vừa tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, giúp doanh nghiệp nhà nước vận hành linh hoạt hơn, thu hút nhân tài, thúc đẩy đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế”, ông Thuấn kỳ vọng.
Ngành có dư địa tăng trưởng lớn
Đồng tình với quan điểm này, TS. Nguyễn Minh Thảo, Phó trưởng ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, Bộ Tài chính cho rằng dù đây là mục tiêu tham vọng nhưng không phải thiếu cơ sở, bởi Nghị quyết đã đưa ra nhiều giải pháp then chốt nhằm tạo “bệ đỡ” cho DNNN bứt phá.
Một trong những yêu cầu nổi bật được nhấn mạnh là tách bạch hoạt động kinh doanh với việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội, nhiệm vụ chính trị, nhằm bảo đảm hạch toán đầy đủ, minh bạch và rõ ràng giữa các phần việc.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc Nhà nước tập trung đầu tư, tăng quy mô vốn cho một số tập đoàn, tổng công ty có vai trò dẫn dắt trong các ngành then chốt, chiến lược, nhằm tạo nền tảng để doanh nghiệp vươn ra chuỗi giá trị toàn cầu.
"Việc tăng quy mô vốn có thể được thực hiện thông qua tăng vốn điều lệ hoặc sáp nhập các doanh nghiệp cùng ngành nghề để nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực", bà Thảo nêu rõ.
Đáng chú ý, các quy định mới về quản trị được thiết kế theo hướng tăng quyền tự chủ, tạo sự linh hoạt cho doanh nghiệp trong điều hành, như cho phép thuê giám đốc, tổng giám đốc, áp dụng cơ chế đãi ngộ, thưởng để thu hút và giữ chân nhân sự chất lượng cao.
Cùng với đó, việc tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả hoạt động củaTổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), tập trung nguồn lực và vốn vào các doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt cũng được xem là giải pháp quan trọng, nhằm hình thành các “đầu tàu” đủ quy mô để vươn ra thị trường quốc tế.

TS. Nguyễn Minh Thảo, Phó trưởng ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, Bộ Tài chính. (Ảnh: N.N).
Tuy nhiên, để sớm có doanh nghiệp nhà nước lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới, cần tập trung nguồn lực vào những ngành có dư địa tăng trưởng lớn và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong đó, khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và các ngành công nghệ số, được đánh giá là lĩnh vực Việt Nam có nhiều tiềm năng nhờ lợi thế về nguồn nhân lực, tốc độ chuyển đổi số nhanh và nhu cầu thị trường quốc tế ngày càng mở rộng.
Bên cạnh đó, lĩnh vực năng lượng cũng được xem là “không gian phát triển” quan trọng, nhất là trong bối cảnh thế giới thúc đẩy chuyển dịch sang năng lượng sạch và bảo đảm an ninh năng lượng. Đây là ngành có quy mô thị trường lớn, khả năng tạo ra các tập đoàn mạnh, đủ sức vươn ra toàn cầu và từng bước tiệm cận nhóm doanh nghiệp hàng đầu thế giới.
“Các giải pháp trong Nghị quyết cần được triển khai đồng bộ và đặc biệt phải được thể chế hóa bằng hệ thống chính sách cụ thể, từ luật pháp, văn bản quy phạm pháp luật cho tới hành động thực thi, nhằm tạo môi trường thuận lợi để DNNN phát huy vai trò dẫn dắt và bứt phá trong giai đoạn tới", bà Thảo nhấn mạnh.












