Tháo gỡ điểm nghẽn tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Giảm lãi suất giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vay vốn. Nhưng với doanh nghiệp chưa tiếp cận được khoản vay, điều cần trước tiên là một lối vào thị trường tín dụng. Tháo gỡ điểm nghẽn này đòi hỏi cách đánh giá năng lực trả nợ phù hợp hơn, cùng cơ chế pháp lý đủ tin cậy để ngân hàng có thể mở rộng cho vay.
Chủ trương giảm lãi suất, hướng tín dụng vào sản xuất, kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả phân bổ vốn. Với những doanh nghiệp có phương án khả thi nhưng hạn chế về tài sản bảo đảm, việc đánh giá đầy đủ nguồn trả nợ và lựa chọn phương thức tài trợ phù hợp có thể mở rộng cơ hội tiếp cận tín dụng, đồng thời bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng.
Đánh giá năng lực trả nợ toàn diện
Một doanh nghiệp có nhà xưởng thuê, máy móc, khách hàng và đơn hàng ổn định vẫn có thể cần vốn lưu động để mua nguyên liệu, trả lương và thực hiện hợp đồng. Nguồn trả nợ dự kiến đến từ khoản thanh toán sau khi giao hàng, trong khi doanh nghiệp hạn chế về bất động sản dùng làm tài sản bảo đảm.
Trong trường hợp này, khả năng trả nợ cần được xem xét trên cơ sở tổng thể, từ dòng tiền, chi phí thực hiện hợp đồng đến lịch sử giao dịch và khả năng ứng phó khi doanh thu giảm hoặc khách hàng chậm thanh toán. Tài sản bảo đảm là yếu tố quan trọng trong quản trị rủi ro, nhưng cần được xem xét cùng năng lực tài chính và tính khả thi của phương án kinh doanh.

Tháo gỡ khó khăn tiếp cận vốn cần hướng tới mục tiêu giúp doanh nghiệp có phương án khả thi được đánh giá trên cơ sở đầy đủ hơn về năng lực trả nợ (Ảnh minh hoạ)
Nghị quyết 68-NQ/TW định hướng khuyến khích cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị; xem xét động sản, tài sản vô hình, tài sản hình thành trong tương lai và hình thức cho vay tín chấp. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định về tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai. Khoản 2 Điều 15 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng quyết định cho vay không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định.
Các quy định và định hướng này là cơ sở để tiếp tục phát huy những phương thức cấp tín dụng phù hợp. Trong đó, cần phân biệt tài sản bảo đảm với phương pháp thẩm định: quyền đòi nợ có thể được xem xét làm tài sản bảo đảm khi đáp ứng điều kiện pháp luật; bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm khác; còn đánh giá dòng tiền nhằm xác định nguồn trả nợ và quản lý rủi ro khoản vay.
Nâng cao tính minh bạch của doanh nghiệp
Tài trợ dựa trên khoản phải thu đòi hỏi kiểm tra giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán, thời hạn trả tiền, tình trạng thực hiện hợp đồng và năng lực của bên có nghĩa vụ. Hợp đồng đã ký chưa đồng nghĩa khoản tiền chắc chắn được thu hồi; giá trị thanh toán còn có thể phụ thuộc vào nghiệm thu, tranh chấp hoặc các điều kiện hợp đồng.
Bên cạnh đó, cần xác minh tình trạng pháp lý của quyền tài sản, các biện pháp bảo đảm đã được xác lập và thứ tự ưu tiên thanh toán theo quy định. Việc nâng cao khả năng tra cứu, đối chiếu thông tin giúp tổ chức tín dụng có thêm cơ sở đánh giá rủi ro trước khi quyết định cấp vốn.
Với doanh nghiệp có lịch sử giao dịch ổn định, ngân hàng có thể xem xét hạn mức theo chu kỳ kinh doanh, giải ngân theo tiến độ hợp đồng và theo dõi nguồn thu trên cơ sở thỏa thuận.
Thông tin từ bên mua, chứng từ giao nhận và hồ sơ nghiệm thu có thể hỗ trợ kiểm chứng giao dịch. Các thỏa thuận về xác nhận công nợ, chuyển tiền phục vụ thu nợ cũng cần được xác lập rõ ràng, phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với những doanh nghiệp có phương án khả thi nhưng cần thêm cơ chế hỗ trợ, Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể góp phần chia sẻ rủi ro. Việc hoàn thiện cơ chế cần chú trọng điều kiện bảo lãnh, phạm vi trách nhiệm và sự phối hợp giữa quỹ với tổ chức tín dụng, phù hợp đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Khả năng tiếp cận vốn còn phụ thuộc vào chất lượng thông tin do doanh nghiệp cung cấp. Sổ sách kế toán, hóa đơn, hợp đồng và dòng tiền cần có khả năng đối chiếu; công nợ phải được theo dõi thường xuyên; giao dịch của doanh nghiệp cần được phân định rõ với chi tiêu cá nhân của chủ sở hữu.
Do đó, hỗ trợ doanh nghiệp cần gắn với việc chuẩn hóa hợp đồng, điều kiện thanh toán, hồ sơ giao nhận, nghiệm thu và quản lý quyền tài sản. Cùng với đó, việc nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp và thực thi nghĩa vụ theo pháp luật sẽ góp phần củng cố độ tin cậy của các giao dịch kinh doanh.
Tháo gỡ khó khăn tiếp cận vốn cần hướng tới mục tiêu giúp doanh nghiệp có phương án khả thi được đánh giá trên cơ sở đầy đủ hơn về năng lực trả nợ, đồng thời bảo đảm an toàn tín dụng.
Sự phối hợp giữa ngân hàng, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan trong việc nâng cao chất lượng thông tin, đa dạng hóa phương thức tài trợ và hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
