Tháo gỡ điểm nghẽn trong vận hành thủy lợi liên tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hệ thống công trình thủy lợi liên tỉnh giữ vai trò quan trọng điều tiết nguồn nước, phục vụ sản xuất và sinh hoạt ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, hạ tầng chưa đồng bộ, nhu cầu sử dụng nước khác nhau giữa các vùng sản xuất, cơ chế phối hợp chưa thật sự thống nhất đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, vận hành.

Cống Cái Bé góp phần kiểm soát mặn và điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản vùng ven biển Tây Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh: Anh Trường)
Hạ tầng chưa đồng bộ, khó tối ưu nguồn nước
Đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện tự nhiên đa dạng, với những vùng chuyên canh lúa, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Sự đa dạng này tạo nên lợi thế sản xuất của vùng, nhưng cũng đặt ra bài toán phức tạp đối với công tác quản lý, phân bổ và điều tiết nguồn nước, nhất là tại những khu vực có sự đan xen giữa các mô hình sản xuất.
Theo ông Lê Tự Do, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam, đơn vị hiện quản lý, khai thác năm hệ thống công trình thủy lợi liên tỉnh thuộc ba hệ thống chính, gồm Cái Lớn-Cái Bé, Quản Lộ-Phụng Hiệp và Nam Măng Thít. Đây là những công trình có phạm vi phục vụ rộng, liên quan trực tiếp đến nhu cầu cấp nước, kiểm soát mặn và tổ chức sản xuất của nhiều địa phương.

Cống Cái Bé phối hợp vận hành 2/2 cửa van để hỗ trợ tiêu úng. (Ảnh: Anh Trường)
Đặc thù của các hệ thống này là nguồn nước không bị giới hạn trong phạm vi địa giới hành chính. Việc điều tiết tại một khu vực có thể tác động đến khả năng lấy nước, tiêu thoát nước và kiểm soát mặn ở khu vực khác. Do đó, hiệu quả vận hành không chỉ phụ thuộc vào năng lực của từng công trình mà còn đòi hỏi sự đồng bộ của toàn hệ thống, từ đầu mối đến mạng lưới kênh dẫn và công trình nội đồng.
Một trong những khó khăn được đặt ra là hạ tầng thủy lợi ở một số khu vực chưa hoàn chỉnh. Các công trình chưa khép kín, hệ thống dẫn nước và công trình phía hạ du chưa đồng bộ, trong khi việc phân định các khu vực sản xuất có yêu cầu khác nhau về độ mặn, độ ngọt còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng chủ động điều tiết và giữ nước phù hợp với từng vùng.
Trên thực tế, kiểm soát mặn tại đầu mối chưa đồng nghĩa với việc mọi khu vực sản xuất đều có thể chủ động nguồn nước. Hiệu quả còn phụ thuộc vào mạng lưới công trình phía sau, khả năng trữ nước và điều kiện tiếp nhận nước của từng địa bàn. Nếu thiếu các công trình kết nối hoặc phân ranh phù hợp, việc đưa nước đến đúng nơi, đúng thời điểm và đáp ứng yêu cầu sản xuất sẽ gặp khó khăn.
Bởi vậy, đầu tư thủy lợi cần được nhìn nhận trong mối quan hệ tổng thể giữa công trình đầu mối, hệ thống kênh dẫn, công trình nội đồng và phương án tổ chức sản xuất. Việc hoàn thiện từng hạng mục riêng lẻ sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu thiếu sự kết nối với toàn mạng lưới.
Điều phối nguồn nước không thể bó hẹp trong địa giới hành chính
Bên cạnh những hạn chế về hạ tầng, sự khác biệt về nhu cầu sử dụng nước giữa các địa phương cũng là vấn đề cần được giải quyết trong vận hành thủy lợi liên tỉnh.

Cống Cái Lớn đang vận hành đóng 9/11 cửa van để hỗ trợ tiêu úng trong đợt triều cường đầu tháng 10/2026. (Ảnh: Anh Trường)
Trong cùng một hệ thống, có khu vực cần duy trì nguồn nước ngọt để phục vụ lúa và cây ăn quả, trong khi nơi khác phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ hoặc nước mặn. Thời điểm lấy nước, yêu cầu về chất lượng nguồn nước và lịch thời vụ của các mô hình sản xuất không phải lúc nào cũng trùng khớp. Nếu thiếu sự thống nhất trong tổ chức sản xuất và điều tiết, việc đáp ứng nhu cầu của khu vực này có thể ảnh hưởng đến khả năng cấp nước cho khu vực khác.
Theo ông Lê Tự Do, một yêu cầu đặt ra là phải tăng cường phối hợp giữa đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi với cơ quan chuyên môn, đơn vị quản lý thủy lợi tại địa phương và chính quyền cơ sở. Sự phối hợp cần gắn với diễn biến nguồn nước, hiện trạng sản xuất và nhu cầu thực tế của từng khu vực, thay vì chỉ dừng ở việc trao đổi thông tin khi phát sinh tình huống.
Tháng 9/2026, Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam đã ký quy chế phối hợp với các sở nông nghiệp và môi trường, đơn vị quản lý thủy lợi tại địa phương và Ủy ban nhân dân cấp xã. Đây là cơ sở để tăng cường trao đổi thông tin, phối hợp vận hành công trình và nâng cao tính chủ động trong quản lý nguồn nước.
Tuy nhiên, để cơ chế phối hợp phát huy hiệu quả, cần cụ thể hóa trách nhiệm của từng bên trong quá trình vận hành. Đơn vị quản lý công trình cần cung cấp thông tin về mực nước, độ mặn, tình trạng vận hành và kế hoạch điều tiết; địa phương cần cập nhật nhu cầu sử dụng nước, lịch xuống giống, diện tích sản xuất và khả năng trữ nước. Trên cơ sở đó, các bên có thể thống nhất kế hoạch lấy nước, phân bổ thời gian sử dụng nước và điều chỉnh phương án khi điều kiện thực tế thay đổi.
Việc công khai lịch vận hành, thiết lập đầu mối liên lạc và duy trì trao đổi thường xuyên cũng có ý nghĩa thiết thực. Khi thông tin đến được với chính quyền cơ sở, đơn vị sản xuất và người dân kịp thời, các phương án lấy nước, trữ nước có thể được triển khai chủ động hơn, hạn chế tình trạng ứng phó bị động hoặc sử dụng nguồn nước thiếu phối hợp.
Về lâu dài, phối hợp liên tỉnh cần gắn với quy hoạch thủy lợi và quy hoạch sản xuất theo vùng sinh thái. Lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và nhu cầu nước cần được tính toán trong mối quan hệ với khả năng cấp nước của toàn hệ thống. Đây là điều kiện để giảm xung đột trong sử dụng nguồn nước, đồng thời nâng cao hiệu quả khai thác các công trình đã được đầu tư.
Từ quản lý công trình đến quản trị nguồn nước tích hợp
Cùng với hoàn thiện hạ tầng và cơ chế phối hợp, chuyển đổi phương thức quản lý dựa trên dữ liệu là yêu cầu quan trọng đối với các hệ thống thủy lợi liên tỉnh.
Hiện nay, thông tin về mực nước, độ mặn, tình trạng đóng mở cống và nhu cầu cấp nước được thu thập từ nhiều nguồn. Tuy nhiên, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị và địa phương chưa thật sự đồng bộ, gây khó khăn khi cần đánh giá tổng thể hoặc điều chỉnh phương án vận hành trên phạm vi rộng.

Cống kênh Sóc Tràm, tỉnh An Giang, thuộc hệ thống công trình thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, có nhiệm vụ kiểm soát mặn, giữ ngọt, tiêu úng. (Ảnh: Anh Trường)
Theo ông Lê Tự Do, cần từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin và thống nhất quy trình phối hợp giữa các đơn vị liên quan. Dữ liệu cần được cập nhật thường xuyên, bảo đảm tính chính xác và có thể khai thác phục vụ công tác dự báo, điều hành cũng như đánh giá hiệu quả vận hành công trình.
Khi các thông tin về nguồn nước, độ mặn, trạng thái công trình và nhu cầu sản xuất được kết nối, cơ quan quản lý có điều kiện đánh giá tác động giữa các khu vực, lựa chọn phương án điều tiết phù hợp và kịp thời phát hiện những bất cập trong quá trình vận hành. Đây cũng là cơ sở để chuyển từ xử lý từng tình huống riêng lẻ sang quản lý tổng thể theo lưu vực và hệ thống công trình.
Cùng với đó, cần nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành tích hợp giữa các hệ thống thủy lợi có mối liên hệ về nguồn nước. Quy trình phải xác định rõ nguyên tắc phối hợp, cơ chế trao đổi thông tin, trách nhiệm của từng đơn vị và phương án xử lý khi xuất hiện những yêu cầu sử dụng nước khác nhau. Việc vận hành cần linh hoạt theo điều kiện thực tế, nhưng vẫn bảo đảm tính thống nhất và khả năng phối hợp trên toàn hệ thống.
Một vấn đề có ý nghĩa lâu dài là đổi mới tư duy phát triển thủy lợi gắn với chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Theo ông Lê Tự Do, cần tính đến đặc điểm của ba vùng sinh thái ngọt, lợ và mặn, thay vì chỉ tiếp cận nguồn nước theo yêu cầu giữ ngọt hoặc ngăn mặn. Trong điều kiện phù hợp, nước mặn, nước lợ và nước ngọt đều có thể trở thành nguồn lực phục vụ sản xuất nếu được quản lý đúng cách.
Định hướng tổ chức sản xuất theo trục “thủy sản-cây ăn quả-lúa”, gắn với đặc điểm từng vùng sinh thái, cũng đặt ra yêu cầu điều chỉnh cách tiếp cận trong quy hoạch và vận hành thủy lợi. Công trình không chỉ phục vụ một loại cây trồng hay một mùa vụ mà cần đáp ứng cơ cấu sản xuất đa dạng, đồng thời tạo điều kiện để người dân thích ứng với biến động nguồn nước.
Để hiện thực hóa định hướng này, quy hoạch công trình, kế hoạch sản xuất và phương án điều tiết nguồn nước cần được xây dựng đồng bộ. Những khu vực có nhu cầu giữ ngọt cần được bảo đảm khả năng trữ và cấp nước; khu vực phát triển sản xuất nước lợ, nước mặn cần có giải pháp kiểm soát ranh giới mặn-ngọt phù hợp; các vùng chuyển tiếp cần có phương án vận hành linh hoạt, hạn chế tác động bất lợi giữa những mô hình sản xuất liền kề.
Bài toán thủy lợi ở Đồng bằng sông Cửu Long vì thế không chỉ là xây thêm công trình hay nâng cao năng lực vận hành từng đầu mối. Điều quan trọng hơn là kết nối hạ tầng, thống nhất cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu và tổ chức sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái. Khi các yếu tố này được triển khai đồng bộ, hệ thống thủy lợi liên tỉnh mới có thể phát huy hiệu quả, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng nước và tạo nền tảng cho phát triển bền vững toàn vùng.
