Tháo nẹp vít sau 4 năm, phẫu thuật gặp khó
Sau gần 4 năm mang dụng cụ kết hợp xương, người phụ nữ trẻ trải qua ca tháo nẹp vít phức tạp do can xương bao phủ.
Vừa qua, một phụ nữ trẻ từng phẫu thuật kết hợp xương vùng cẳng chân và cổ chân hai bên bằng đinh, nẹp vít đến Bệnh viện ĐKKV Hóc Môn với mong muốn tháo dụng cụ. Xương đã liền tốt, nhưng ca phẫu thuật không đơn giản như dự kiến, bởi sau gần 4 năm, can xương (mô xương mới được hình thành để bắc cầu và chữa lành vết thương tại vị trí xương bị gãy) phát triển bao phủ, bám chặt vào dụng cụ, thậm chí một số vít bị tuôn đầu.
Can xương bao phủ dụng cụ
Qua thăm khám và chụp X-quang trước mổ, các bác sĩ Khoa Chấn thương Chỉnh hình ghi nhận xương đã liền tốt, đủ điều kiện để chỉ định tháo dụng cụ kết hợp xương. Tuy nhiên, khi phẫu thuật, ê-kíp nhận thấy can xương đã phát triển bao phủ và bám chặt gần như toàn bộ bề mặt đinh, nẹp và vít. Các dụng cụ tháo thông thường không thể dễ dàng thực hiện như dự kiến.
Một số vít nằm lâu, bị can xương bám chặt nên tuôn đầu khi vặn, khiến dụng cụ tháo vít thông thường không còn hiệu quả. Ê-kíp phải sử dụng màn hình tăng sáng C-arm để xác định chính xác vị trí dụng cụ, đồng thời dùng các trợ cụ chuyên dụng, bóc tách lớp can xương và khoan phá có kiểm soát vùng mũ vít, quanh chân vít.

Ca tháo nẹp vít phức tạp do can xương bao phủ dụng cụ. Ảnh: BVCC
Các thao tác được thực hiện từng bước nhằm lấy dụng cụ nhưng bảo tồn tối đa phần xương lành. Sau phẫu thuật, toàn bộ dụng cụ được lấy ra an toàn, không xảy ra biến chứng nứt hoặc gãy xương. Người bệnh hồi phục tốt.
BS.CKII Nguyễn Bảo Dũng - Quản lý điều hành Khoa Chấn thương Chỉnh hình, cho biết những trường hợp khó khăn khi tháo dụng cụ sau thời gian dài không phải là tình huống hiếm gặp. Một số người bệnh sau phẫu thuật thấy hết đau, đi lại bình thường nên không tiếp tục tái khám, hoặc không biết khi nào cần kiểm tra và tháo dụng cụ.
Tuy nhiên, không phải cứ có đinh, nẹp vít là bắt buộc phải tháo, cũng không có một mốc thời gian áp dụng cho tất cả trường hợp. Việc có cần tháo hay không và thời điểm tháo phải được bác sĩ chuyên khoa đánh giá dựa trên loại gãy xương, vị trí tổn thương, loại dụng cụ, mức độ liền xương, tuổi, tình trạng sức khỏe và nhu cầu của từng người bệnh.
Tháo quá sớm hay để quá lâu đều có thể gặp vấn đề
Theo các bác sĩ, nếu tháo dụng cụ khi xương chưa liền vững, ổ gãy có thể mất sự hỗ trợ cơ học cần thiết, làm tăng nguy cơ gãy lại, di lệch, chậm liền xương hoặc khớp giả. Ngược lại, nếu đã có chỉ định tháo nhưng trì hoãn quá lâu, xương có thể phát triển bao quanh dụng cụ, khiến phẫu thuật khó khăn hơn. Các tình huống như vít kẹt, tuôn đầu, gãy đinh hoặc nẹp vít, khó lấy hết dụng cụ, tổn thương xương lành hay nứt gãy xương có thể xảy ra.
Một số mốc thời gian có thể được tham khảo như đinh nhỏ, chẳng hạn đinh Kirschner, khoảng 3-6 tháng; nẹp vít hoặc đinh nội tủy khoảng 1-2 năm. Tuy nhiên, đây không phải mốc cứng nhắc. Quyết định tháo dụng cụ cần dựa trên thăm khám và hình ảnh X-quang đánh giá mức độ liền xương.

Dụng cụ nẹp xương được các bác sĩ lấy ra sau gần 4 năm. Ảnh: BVCC
Sau khi tháo dụng cụ, người bệnh cũng không nên nghĩ xương đã lập tức trở lại trạng thái ban đầu. Những vị trí từng là đường đi của vít vẫn cần thời gian phục hồi. Trong khoảng 2-3 tháng đầu, người bệnh cần thận trọng khi vận động, hạn chế mang vác nặng, vận động mạnh, các môn thể thao đối kháng và đặc biệt tránh té ngã. Tái khám đúng lịch, chụp X-quang theo chỉ định giúp bác sĩ theo dõi quá trình hồi phục thay vì để người bệnh tự đánh giá chỉ dựa vào cảm giác hết đau.
Từ trường hợp trên, Khoa Chấn thương Chỉnh hình - Bệnh viện ĐKKV Hóc Môn khuyến cáo người từng phẫu thuật kết hợp xương bằng đinh, nẹp vít nên lưu giữ hồ sơ điều trị, biết loại dụng cụ đang mang và duy trì tái khám theo lịch hẹn. Đặc biệt, người bệnh không nên tự quyết định tháo dụng cụ chỉ vì cảm thấy vướng, khó chịu; đồng thời cũng không nên bỏ tái khám nhiều năm vì thấy đã hết đau, đi lại bình thường.
Các bác sĩ còn nhấn mạnh, thời điểm tháo dụng cụ cần được cá thể hóa. Thăm khám và chụp X-quang giúp bác sĩ đánh giá tình trạng liền xương, dụng cụ và cân nhắc lợi ích - nguy cơ trước khi quyết định phẫu thuật.
