Thế hệ trẻ xúc động khi được nghe lại ký ức hào hùng của một thời hoa lửa

Trong gần 2 tiếng tham dự tọa đàm, các khán giả đã được hòa mình vào những ký ức hào hùng về một thời hoa lửa của cha ông, qua đó cảm nhận sâu sắc giá trị của hòa bình hôm nay và thêm trân trọng những hy sinh xương máu của thế hệ đi trước.

Ngày 29/8, trong khuôn khổ triển lãm “95 năm Cờ Đảng soi đường” tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia (Đông Anh, Hà Nội) đã diễn ra tọa đàm với chủ đề “Khát vọng bảo vệ nền độc lập và thống nhất non sông”. Đây là tọa đàm thứ hai trong chuỗi tọa đàm “Tự hào tiến bước dưới ánh sáng Cờ Đảng soi đường” do Báo Nhân Dân phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức.

Các diễn giả tham gia tọa đàm gồm: Đại tá, nhạc sĩ Doãn Nho, tác giả ca khúc “Tiến bước dưới quân kỳ” sáng tác tại Điện Biên Phủ được chọn là bài hát truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại tá Nguyễn Đình Kiên, Anh hùng Lực lượng vũ trang, trắc thủ tên lửa từng bắn rơi 4 máy bay B52 trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (tháng 12/1972); Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên, pháo thủ số 1 xe tăng 390 - xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập (30/4/1975); PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, hiện là Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.

 Quang cảnh tọa đàm.

Quang cảnh tọa đàm.

Khoảng nửa tiếng trước khi tọa đàm bắt đầu, rất đông khán giả đã có mặt để chờ nghe các nhân chứng lịch sử chia sẻ những câu chuyện về một thời hoa lửa đầy gian khổ mà rất đỗi hào hùng của cha ông, mặc cho đối diện mưa bom bão đạn nhưng vẫn kiên cường tiến bước, mang trong tim nhiệt huyết của tuổi trẻ với khát vọng đánh đuổi quân thù, bảo vệ nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất non sông.

Các thế hệ cùng nhau “tiến bước dưới quân kỳ”

Dưới sự dẫn dắt của nhà thơ, nhà báo Hữu Việt, nhạc sĩ Doãn Nho hồi tưởng lại khoảng thời gian năm 1954 khi ông mới 21 tuổi và được trực tiếp tham gia phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ cùng Đoàn ca múa quân đội Tổng cục Chính trị.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất với ông là những năm tháng công tác ở tuyến 2 - vùng An toàn khu Định Hóa, Thái Nguyên, nơi các đoàn quân đi qua khi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, và khi chiến thắng trở về. Đây cũng là nơi Bác Hồ chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ của cả dân tộc, đồng thời cũng là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng ở trước khi chuyển đến rừng Mường Phăng, Điện Biên.

“Chúng tôi ở tuyến 2 phục vụ quân ta đi qua ATK đến Điện Biên chiến đấu. Từ ATK, sau đó, chúng tôi cũng đón đoàn quân trực tiếp chiến đấu ở Điện Biên chiến thắng trở về”, nhạc sĩ Doãn Nho kể.

 Nhạc sĩ Doãn Nho chia sẻ.

Nhạc sĩ Doãn Nho chia sẻ.

Chia sẻ về hoàn cảnh sáng tác bài hát “Tiến bước dưới quân kỳ”, nhạc sĩ Doãn Nho cho biết, năm 1958, ông được giao nhiệm vụ cùng đoàn lên Điện Biên Phủ đi tiền trạm cho đoàn ca múa của Tổng cục Chính trị biểu diễn phục vụ bộ đội và đồng bào ta. Lúc đó, chiến trường Điện Biên Phủ chuyển thành nông trường, các chiến sĩ Điện Biên Phủ lại về hậu phương, tham gia nhiệm vụ lao động, sản xuất.

“Khi đến chân đồi A1, nhớ lại hình ảnh bộ đội ta đào gần như kín đồi A1 để đặt thuốc nổ, rất nhiều người đã hy sinh, leo từng bậc bên sườn đồi để lên nghĩa trang, tôi đã khóc. Chúng ta đã hy sinh rất lớn mới có được chiến thắng” - nhạc sĩ Doãn Nho bồi hồi nhớ lại. Không giấu được sự xúc động, người nhạc sĩ 93 tuổi đã cất tiếng hát: “Bước từng bậc/ Nhớ từng người/ Lòng đau đớn/ Uất ức/ Căm hờn/ Thù này phải trả/ Đồng chí ta ơi”.

Ông cho biết, nét nhạc của bài hát khắc họa hình ảnh của các cựu chiến binh già dặn, từng trải chiến đấu, đồng thời có cả hình ảnh của thế hệ tân binh tham gia vào quân đội sau chiến thắng Điện Biên Phủ: “Vừng đông đã hửng sáng/ Núi non xanh ngàn trùng xa/ Tổ quốc bao la hiền hòa/ Tươi thắm bóng cờ vờn bay trên cao/ Muôn trái tim này hòa nhịp cùng ngàn lời ca trong sóng lúa/ Lấp lánh sao bay trên quân kỳ”… Cứ như thế, hình ảnh tân binh và cựu binh, các thế hệ tiếp bước nhau dưới quân kỳ. Ca khúc “Tiến bước dưới quân kỳ” sau đó được Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chọn là một trong 10 nhạc phẩm truyền thống của quân đội ta.

Bộ đội tên lửa với chiến tích tiêu diệt pháo đài bay B52

Tháng 4 vừa qua, tại Bảo tàng Phòng không - Không quân đã đón chào những cựu phi công, sĩ quan tên lửa Việt Nam và những “đối thủ” bên kia chiến tuyến - Không lực Hoa Kỳ. Tại chương trình, phi công Mỹ đã bày tỏ sự khâm phục với chiến công của người Việt Nam và không tin được B52 có thể bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội.

Chia sẻ về nội dung này, Đại tá Nguyễn Đình Kiên hóm hỉnh cho biết, những chiến sĩ tên lửa khi đó toàn là chiến sĩ “chân đất”, hầu hết mới học hết lớp 7, nhưng dưới sự huấn luyện của các chuyên gia Liên Xô, các chiến sĩ đã vượt qua thách thức để nắm vững khoa học và có thao tác sử dụng tên lửa thành thạo.

“Nước ngoài nghĩ rằng, nếu muốn huấn luyện được đội ngũ hoàn chỉnh để đánh thắng được không quân Mỹ là lực lượng tinh nhuệ cần phải học trong 1 năm trời. Nhưng những người lính của chúng ta đã học ngày, học đêm, sử dụng thành thạo tên lửa và đánh thắng ngay trận đầu. Ngày 4/7/1965, bộ đội tên lửa đánh thắng tại khu vực Sơn Tây và bắn rơi chiếc F4 đầu tiên. Đây là chiến công đầu tiên sau 3 tháng huấn luyện”, Đại tá Nguyễn Đình Kiên nhớ lại.

 Đại tá Nguyễn Đình Kiên chia sẻ câu chuyện về bắn hạ pháo đài bay B52 trên bầu trời Hà Nội trong trận "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972.

Đại tá Nguyễn Đình Kiên chia sẻ câu chuyện về bắn hạ pháo đài bay B52 trên bầu trời Hà Nội trong trận "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972.

Để bảo vệ bầu trời Hà Nội trong trận “Điện Biên Phủ trên không”, cùng với sự giúp đỡ quan trọng của chuyên gia nước ngoài, bộ đội tên lửa của ta đã chủ động nghiên cứu cách đánh B52. Theo Đại tá Nguyễn Đình Kiên, quá trình nghiên cứu này bắt đầu từ năm 1967. Sau khi 6,7 Trung đoàn tên lửa của Hà Nội ra quân, Bác Hồ căn dặn Quân chủng Phòng không-Không quân: “Sớm muộn gì đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua... Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ, chuẩn bị…”.

Khi đó, Mỹ đang bị sa lầy tại Việt Nam và phải sử dụng tới loại hình chiến đấu hiện đại nhất là B52 với tham vọng lớn. Quân chủng Phòng không-Không quân đã tổ chức một Trung đoàn tên lửa, hành quân ròng rã 6 tháng từ Hà Nội vào Vĩnh Linh để nghiên cứu phương án đánh B52. Suốt 6 tháng đó, 1 Trung đoàn vào tới Vĩnh Linh chỉ còn gom lại còn được 1 tiểu đoàn. Chúng ta đã hy sinh rất lớn. Với lòng căm thù giặc, Trung đoàn 238 và cơ quan quân chủng, chuyên gia Liên Xô tập trung nghiên cứu đánh B52.

Ngày 19/7/1972, tại Vĩnh Linh, bộ đội tên lửa bắn rơi B52 nhưng do địa hình hẹp, B52 không rơi trên đất Việt Nam. Trong suốt thời gian nghiên cứu xương máu đó, cơ quan Quân chủng kết hợp các đơn vị đã viết cuốn sách “Cách đánh B52” và cuốn sách đó được phổ biến rộng rãi trong toàn bộ cán bộ, chiến sĩ đơn vị toàn quân chủng. Nhờ đó, các chiến sĩ tên lửa tiếp thu kiến thức về trang thiết bị khí tài nhanh hơn. Thời gian này, Quân chủng đã tập huấn cho bộ đội xây dựng phương án tác chiến và hình thành cách đánh của bộ đội Việt Nam. Cách đánh này trở thành bảo bối của quân đội Việt Nam và sau đã được vinh danh với Giải thưởng Hồ Chí Minh.

 Tọa đàm thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân.

Tọa đàm thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân.

“Khi B52 tập kích vào Hà Nội, tên lửa của chúng ta đàng hoàng “tiếp đón” chu đáo. Lực lượng phòng không có 13 tiểu đoàn bắn rơi 29 B52 Mỹ, trong đó có 16 rơi tại chỗ. Mỹ công nhận thất bại của họ”, Đại tá Nguyễn Đình Kiên tự hào chia sẻ với các bạn trẻ.

Trong đợt tập kích ác liệt của Mỹ vào Hà Nội với mỗi đợt sử dụng tới 36-39 B52, cả đêm lên tới hàng trăm B52 đánh Hà Nội, với tình thế chưa kịp vận chuyển đạn dược từ nơi tập kết về đơn vị, các chiến sĩ tên lửa đã tính toán chi tiết, tiết kiệm đạn dược tối đa và quyết tâm nhằm đúng mục tiêu mà bắn.

“Ngày 21/12/1972, tại trận địa Đông Anh, Hà Nội, chỉ trong 10 phút, bộ đội tên lửa của ta đã có lần trận bắn rơi 2 B52, trong đó 1 chiếc rơi xa, 1 chiếc rơi tại Núi Đôi, Hà Nội, tạo nên chiến công xuất sắc của bộ đội tên lửa chúng tôi”, Đại tá Nguyễn Đình Kiên xúc động nói. Ông cũng chia sẻ những thông tin rất thú vị về cách mà lực lượng phòng không-không quân của ta tìm ra cách giải nhiễu của đội hình bay B52.

Theo Đại tá Nguyễn Đình Kiên, khi B52 bay vào Hà Nội thường có 12-16 máy bay tiêm kích bay kèm hộ tống, gây ra nhiễu. Để phân biệt B52 với F4 không đơn giản. Nhờ tài liệu từ Quân khu 4, các chiến sĩ tên lửa phân biệt dựa trên tốc độ vận động khá ổn định và trọng lượng của B52 nặng hơn để xác định đúng mục tiêu.

 Các bạn trẻ hào hứng đặt câu hỏi giao lưu với các diễn giả trong buổi tọa đàm.

Các bạn trẻ hào hứng đặt câu hỏi giao lưu với các diễn giả trong buổi tọa đàm.

Trả lời câu hỏi giao lưu của một cựu chiến binh tại tọa đàm về giá trị của việc lực lượng phòng không-không quân của ta bắn rơi B52 trên bầu trời Hà Nội, Đại tá Nguyễn Đình Kiên khẳng định, chiến thắng lịch sử với việc đập tan 30 cuộc tập kích của không quân Mỹ, bắn rơi vũ khí chiến lược hàng đầu của Mỹ, với 16 B52 rơi trên đất Việt Nam tạo ra những tiền đề quan trọng để chúng ta tiến tới giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Điều đó thể hiện trí tuệ và kỳ tích của quân đội nhân dân Việt Nam.

Tiếp theo dòng hồi tưởng về một thời hoa lửa đầy oai hùng, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên, pháo thủ số 1 xe tăng 390 chia sẻ cảm xúc tự hào vẹn nguyên khi 50 năm đã trôi qua kể từ giây phút ông và các đồng đội cùng kíp xe thực hiện một “vòng cua lịch sử” húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 - khoảnh khắc mà họ gọi là “vinh quang nhất cuộc đời”.

“Thời khắc ấy cho đến lúc này vẫn còn là một ký ức và kỷ niệm không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi, là kỷ niệm đẹp của cá nhân tôi nói riêng và tuổi trẻ thời đại chúng tôi nói chung khi được góp phần nhỏ bé vào chiến thắng của quân và dân ta trong đấu tranh chống Mỹ, giành độc lập toàn vẹn lãnh thổ” - Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên nói.

Ông cho biết, quá trình chiến đấu của chiến dịch mùa Xuân 1975, tất cả các lực lượng đều quán triệt cao nhất chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Đó cũng chính là “kim chỉ nam” để các cánh quân của ta đánh thẳng vào sào huyệt của kẻ thù.

“Chúng tôi đã tự hào về thế hệ mình và cũng tự hào, tin tưởng vào thế hệ hôm nay và tương lai sẽ và không ngừng giữ nguyên khí phách, tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai trong công cuộc dựng xây đất nước” - Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên bày tỏ.

“Binh chủng đặc biệt” trong kháng chiến

Cùng tham gia đội hình “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai” đó, có một “binh chủng đặc biệt” đã góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ - đó là binh chủng của những người làm văn hóa nghệ thuật.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu rõ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Người khẳng định rõ vai trò xung kích của văn hóa trong sứ mệnh giải phóng dân tộc, và điều này đã được thực tế chứng minh.

 PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ chia sẻ về "binh chủng đặc biệt" trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc.

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ chia sẻ về "binh chủng đặc biệt" trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc.

Chia sẻ về nội dung này, PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nhấn mạnh, bên cạnh đường lối chính trị, quân sự đúng đắn cùng sức mạnh vũ khí, khí tài quân sự, thắng lợi của dân tộc Việt Nam xuyên suốt hai cuộc kháng chiến còn có sự góp sức không hề nhỏ của “vũ khí văn hóa”.

Đề cương văn hóa năm 1943 do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo nói về con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là phải coi trọng văn hóa, xây dựng văn hóa cách mạng với nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa – phải bám vào truyền thống dân tộc nhưng phải vươn tới tiên tiến của nhân loại, và văn hóa phải phục vụ cho đại chúng.

Trong lời kêu gọi thi đua ái quốc sau khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8/1945, Bác Hồ đã nhận diện 3 “giặc” chính cần phải đối phó là giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Trong bối cảnh Pháp quay trở lại xâm lược, đặt chính quyền của chúng ta vào thế ngàn cân treo sợi tóc, ngày 24/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì một hội nghị văn hóa toàn quốc, tại đây Người xác định văn hóa phải tham gia vào công cuộc kháng chiến kiến quốc, phải “soi đường cho quốc dân đi”.

Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra chủ trương, đồng thời cũng là khẩu hiệu hành động: “Kháng chiến hóa văn hóa” và “Văn hóa hóa kháng chiến”. Theo PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, đây là một khẩu hiệu tuyệt vời. Với lòng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm cao cả của người nghệ sĩ-chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, nhiều thế hệ văn nghệ sĩ đã có mặt ở những chiến trường. Họ cùng cả nước hành quân ra trận với khí thế: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai!”. Họ tự nguyện dấn thân trong khói lửa chiến tranh, đồng hành cùng quân và dân trong đội hình đánh giặc.

Những bài thơ về tình yêu quê hương, đất nước của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi… hay các ca khúc với âm hưởng hào hùng của Doãn Nho, Phạm Tuyên, Văn Cao… đã thôi thúc cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược cùng bè lũ tay sai. Những sáng tác ra đời trong bom đạn có máu, có nước mắt, có nỗi đau mất mát, nhưng luôn sáng lên những giai điệu hào sảng, là nguồn cổ vũ tinh thần rất lớn cho cả tiền tuyến và hậu phương.

 Các diễn giả chụp ảnh lưu niệm cùng khán giả.

Các diễn giả chụp ảnh lưu niệm cùng khán giả.

“Trong những vũ khí giúp dân tộc Việt Nam đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có một thứ vũ khí đặc biệt, đó là trí tuệ Việt Nam, văn hóa Việt Nam và bản lĩnh Việt Nam” - PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ nhấn mạnh khi trả lời câu hỏi của một bạn trẻ trong phần giao lưu của tọa đàm. Dẫn chứng cho điều đó, ông kể câu chuyện lần Bác Hồ về nước năm 1946, có một số trí thức Việt kiều được bác thuyết phục về cùng để giúp Tổ quốc đang gặp nhiều khó khăn, như ông Phạm Quang Lễ (sau được Bác đặt tên là Trần Đại Nghĩa) chuyên về chế tạo vũ khí, hay ông Võ Quý Huân chuyên về tạo gang thép làm súng ống, băng đạn. Rồi sau đó là thêm các nhà khoa học, trí thức từ nước khác trở về Việt Nam phục vụ kháng chiến.

“Chúng ta đánh kẻ thù không chỉ bằng súng đạn mà bằng trí tuệ Việt Nam. Ông Trần Đại Nghĩa sau khi về nước 5 ngày đã từ Hà Nội lên Thái Nguyên để nghiên cứu, chế tạo súng Bazooka. Súng này nặng 25kg nhưng sức công phá rất lớn, bắn vào xe bọc thép của địch làm chúng hết sức bàng hoàng về khả năng chế tạo vũ khí của ta” - PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ cho hay.

Trong gần 2 tiếng diễn ra tọa đàm, các khán giả đã được hòa mình vào những ký ức hào hùng về một thời hoa lửa của cha ông, qua đó thêm hiểu về những hy sinh xương máu và cống hiến quên mình của thế hệ đi trước và cảm nhận sâu sắc giá trị của độc lập, tự do hôm nay để thêm yêu Tổ quốc, thêm khát vọng cống hiến, cùng nhau xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phát triển thịnh vượng.

NHÓM PHÓNG VIÊN

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/the-he-tre-xuc-dong-khi-duoc-nghe-lai-ky-uc-hao-hung-cua-mot-thoi-hoa-lua-post904667.html