'Thế trận lòng dân' - nền tảng chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, lòng dân luôn là cội nguồn sức mạnh, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu xây dựng và củng cố thế trận lòng dân càng trở nên cấp thiết, mang ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ bên trong.
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là lực lượng quyết định sự tồn tại và phát triển của nhà nước. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, điều đó được thể hiện sâu sắc ở chân lý: Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) không chỉ được đo bằng tiềm lực quân sự hay kinh tế, mà trước hết và trên hết là sức mạnh chính trị-tinh thần của nhân dân, kết tinh ở niềm tin, ý chí, sự đồng thuận và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc.

Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là của toàn dân, do toàn dân và vì toàn dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân là gốc” là sự kế thừa, phát triển sáng tạo tinh hoa lý luận của nhân loại và truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam. Người khẳng định: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, coi lòng dân là “thành trì vững chắc nhất” trong sự nghiệp BVTQ. Theo Người, BVTQ trước hết phải bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; khi lòng dân yên, dân tin Đảng, tin chế độ, thì mọi âm mưu xâm lược, phá hoại đều không thể thành công.
Kế thừa và phát triển tư tưởng đó, Đảng ta nhất quán xác định: Sự nghiệp BVTQ là của toàn dân, do toàn dân và vì toàn dân; xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm, làm chủ thể và là nguồn sức mạnh quyết định. Các Văn kiện Đại hội Đảng, đặc biệt là Đại hội lần thứ XIV, tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh với xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, coi đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm thắng lợi trong BVTQ trong mọi tình huống.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là minh chứng sinh động cho sức mạnh vô địch của lòng dân. Từ Hội nghị Diên Hồng thời Trần, các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc trong thế kỷ XX, đến sự nghiệp đổi mới, xây dựng và BVTQ ngày nay, khi “ý Đảng hợp với lòng dân” thì dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành thắng lợi vẻ vang. Ngược lại, lịch sử cũng cho thấy, mất lòng dân là mất tất cả; đó là bài học có giá trị cảnh tỉnh sâu sắc trong mọi thời đại.
Trong bối cảnh hòa bình, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, sử dụng tổng hợp các biện pháp chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, không gian mạng để tác động, gây hoài nghi, chia rẽ niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; từng bước làm suy yếu thế trận lòng dân từ bên trong. Cùng với đó, các thách thức an ninh phi truyền thống, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng, xung đột cục bộ diễn biến phức tạp, khó lường, đặt ra yêu cầu mới, cao hơn đối với tư duy và phương thức xây dựng thế trận BVTQ.

Bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt.
Thực tiễn các cuộc xung đột, chiến tranh hiện đại trên thế giới cho thấy, chiến tranh ngày nay là chiến tranh tổng hợp, diễn ra trên nhiều lĩnh vực, trong đó yếu tố chính trị-tinh thần, sự ủng hộ hay phản đối của nhân dân có ý nghĩa quyết định. Trong điều kiện đó, lòng dân không chỉ là hậu phương, mà còn là “tuyến phòng thủ chiến lược” đầu tiên, lâu dài và bền vững nhất. Xây dựng thế trận BVTQ mà tách rời yếu tố lòng dân sẽ thiếu chiều sâu, kém bền vững và dễ bị tổn thương trước các nguy cơ, thách thức mới.
Những năm gần đây, việc xây dựng thế trận lòng dân đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Trước hết, nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị ngày càng thống nhất; quan điểm “lấy dân làm gốc” được thể chế hóa tương đối đồng bộ trong các nghị quyết, chiến lược, chương trình phát triển kinh tế-xã hội gắn với quốc phòng, an ninh. Vai trò chủ thể của nhân dân trong sự nghiệp BVTQ được khẳng định rõ hơn, cả trong thời bình và trong phòng ngừa, ứng phó với các tình huống từ sớm, từ xa.
Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; tăng trưởng kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững, mở rộng an sinh xã hội, đầu tư cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố thông qua các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.
Đáng chú ý, việc kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh ngày càng chặt chẽ; vai trò của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong công tác dân vận, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh để lại dấu ấn xã hội sâu sắc, góp phần củng cố hình ảnh lực lượng vũ trang “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”.

Bộ đội Hải quân huấn luyện trên biển.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng thế trận lòng dân vẫn còn một số hạn chế, bất cập. Ở một số nơi, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai, chính sách xã hội còn chậm, thiếu dứt điểm; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm, làm phát sinh những “điểm nghẽn” trong lòng dân, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng. Công tác nắm bắt, dự báo tâm tư, dư luận xã hội chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn số; phương thức tuyên truyền, vận động ở nhiều địa bàn còn chậm đổi mới.
Khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, nhóm xã hội vẫn còn lớn; vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo tiếp tục là những địa bàn nhạy cảm về quốc phòng, an ninh. Năng lực “phòng thủ tư tưởng” trong kỷ nguyên số có mặt còn hạn chế; việc đấu tranh phản bác thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng có lúc chưa kịp thời, thiếu tính thuyết phục.
Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, việc xây dựng thế trận lòng dân cần được tiếp cận bằng tư duy mới, tầm nhìn dài hạn và giải pháp đồng bộ. Trước hết, phải luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược phát triển; mọi chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội phải hướng tới nâng cao chất lượng sống, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Cùng với đó, cần hiện đại hóa mạnh mẽ công tác dân vận, nắm bắt dư luận xã hội trên cơ sở ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo; chuyển từ tư duy “phản ứng” sang “chủ động định hướng” lòng dân. Tăng cường xây dựng “miễn dịch xã hội” trước thông tin xấu độc thông qua đổi mới căn bản công tác giáo dục chính trị, pháp luật, nâng cao kỹ năng số, khả năng phản biện và tự sàng lọc thông tin của người dân.
Đặc biệt, phải quan tâm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền; ưu tiên đầu tư cho vùng chiến lược về quốc phòng, an ninh; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là ở cơ sở, thực sự “vừa hồng, vừa chuyên”, gần dân, hiểu dân, trọng dân, đủ bản lĩnh và năng lực dẫn dắt, thuyết phục dư luận xã hội.
Trong kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, thế trận lòng dân không chỉ là nền tảng chính trị-xã hội, mà còn là năng lực chiến lược quốc gia. Xây dựng vững chắc thế trận lòng dân bằng tư duy mới, công cụ mới và con người mới chính là điều kiện quyết định để BVTQ từ sớm, từ xa, từ bên trong; bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững và tự cường theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.











