Thêm lựa chọn cho vùng nuôi tôm kém hiệu quả
Trước những khó khăn trong nuôi tôm do dịch bệnh, chi phí đầu tư lớn và hiệu quả thiếu ổn định, việc tìm kiếm các đối tượng nuôi mới có khả năng thích nghi, giá trị kinh tế cao đang được người dân và các địa phương ven biển quan tâm.

Kiểm tra, đánh giá sinh trưởng của cá nâu tại mô hình nuôi thương phẩm ở xã Bến Hải - Ảnh: L.A
Tại xã Bến Hải, mô hình nuôi cá nâu thương phẩm gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm bước đầu cho thấy nhiều tín hiệu tích cực, mở ra hướng chuyển đổi cho những diện tích nuôi tôm kém hiệu quả.
Nhiều năm gắn bó với nghề nuôi thủy sản, anh Hoàng Văn Minh ở thôn Cát Sơn, xã Bến Hải từng lựa chọn tôm thẻ chân trắng làm đối tượng nuôi chính. Tuy nhiên, những năm gần đây, dịch bệnh thường xuyên xuất hiện khiến hiệu quả sản xuất không còn ổn định, trong khi chi phí đầu tư ngày càng lớn. Từ thực tế đó, khi được Trung tâm Khuyến nông tỉnh lựa chọn tham gia mô hình nuôi cá nâu thương phẩm gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm, anh đã mạnh dạn chuyển đổi một phần diện tích ao nuôi tôm sang đối tượng nuôi mới này.
Theo đó, trên diện tích 0,5ha, anh thả nuôi 15.000 con cá nâu giống kích cỡ 4-6cm/con, tương đương mật độ 3 con/m2. Sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng protein từ 40%, liều lượng cho ăn theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và được điều chỉnh theo khả năng bắt mồi, diễn biến thời tiết. Kết quả, sau gần 6 tháng thả nuôi, cá sinh trưởng tốt, kích cỡ bình quân đạt từ 6-7 con/kg.
Anh Minh dự kiến sẽ tiếp tục nuôi thêm khoảng 1-2 tháng nữa để cá đạt kích cỡ lớn hơn, khoảng 4-5 con/kg, đáp ứng yêu cầu thương phẩm và giá trị kinh tế cao hơn khi bán ra thị trường. “So với nuôi tôm trước đây, tôi thấy cá nâu ổn định hơn, ít rủi ro hơn. Nếu tiếp tục duy trì được tốc độ sinh trưởng như hiện nay, hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn”, anh Minh cho hay.

Cho cá nâu ăn bằng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi - Ảnh: L.A
Theo kinh nghiệm thực tế của anh, khác với nuôi tôm, vốn đòi hỏi kiểm soát môi trường rất chặt chẽ và thường đối mặt với nhiều rủi ro dịch bệnh, cá nâu bước đầu cho thấy khả năng thích nghi khá tốt trong điều kiện ao nuôi tại địa phương. Điểm đáng lưu ý nhất trong quá trình nuôi là người dân cần thường xuyên kiểm tra lượng ôxy hòa tan, thay nước phù hợp để tạo điều kiện cho cá sinh trưởng. Hàng tháng kiểm tra trọng lượng của cá nuôi trong ao nhằm điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, không để xảy ra tình trạng cho ăn quá dư thừa vừa lãng phí thức ăn vừa làm cho nước ao nuôi bị ô nhiễm. Giảm lượng thức ăn khi thời tiết bất lợi, môi trường nuôi thay đổi.
Trong quá trình nuôi nên bổ sung men tiêu hóa, vitamin C, thuốc bổ vào thức ăn; định kỳ sử dụng vôi nông nghiệp, chế phẩm vi sinh, khoáng chất để làm sạch nguồn nước, duy trì môi trường ổn định. Theo anh Minh, hiện giá cá nâu thương phẩm dao động từ 350.000 đồng/kg trở lên tùy thời điểm. Với tỉ lệ sống khoảng 60%, khi cá đạt kích cỡ thương phẩm 4-5 con/kg, mô hình có thể cho thu hoạch hơn 1,8 tấn. Trừ chi phí đầu tư giống, thức ăn và vật tư, lợi nhuận dự kiến khoảng 200 triệu đồng.
“Quá trình nuôi tôi thấy cá nâu thích nghi tốt với điều kiện nuôi trong ao, lại có giá trị kinh tế cao. Trong những vụ tới, tôi sẽ mở rộng nuôi cá nâu ra toàn bộ diện tích gần 3ha ao nuôi của gia đình”, anh Minh chia sẻ.
Theo ông Lê Minh Tuấn, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Bến Hải, địa phương hiện có trên 70ha diện tích nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, thời gian qua, một số diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú hiệu quả không còn ổn định, khiến người dân chủ động tìm kiếm những đối tượng nuôi phù hợp hơn. Qua theo dõi thực tế, mô hình nuôi cá nâu bước đầu cho thấy hiệu quả khá rõ, tạo thêm cơ sở để địa phương tiếp tục tuyên truyền, vận động người dân chuyển đổi những diện tích nuôi tôm kém hiệu quả sang các đối tượng nuôi mới phù hợp hơn.

Sau 6 tháng nuôi cá đạt kích cỡ 6-7 con/kg - Ảnh: L.A
Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Phan Văn Phương cho biết, mô hình nuôi cá nâu thương phẩm gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm được triển khai nhằm tìm kiếm đối tượng nuôi mới phù hợp với điều kiện vùng ven biển, từng bước hình thành vùng nuôi tập trung và nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản địa phương. Năm 2026 này, mô hình được triển khai tại xã Bến Hải với quy mô 1ha, gồm 2 hộ tham gia.
Qua thực tế triển khai cho thấy, đây là đối tượng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện nuôi nước lợ. Đặc biệt là các diện tích nuôi tôm kém hiệu quả, thường xuyên bị dịch bệnh. Sau gần 6 tháng nuôi, cá sinh trưởng tốt, đạt kích cỡ khoảng 6-7 con/kg. Nếu điều kiện thuận lợi, sau khoảng 7-8 tháng nuôi, cá có thể đạt kích cỡ 4-5 con/kg. Năng suất dự kiến đạt khoảng 3,6 tấn/ha, trừ chi phí, hiệu quả kinh tế ước đạt gần 400 triệu đồng/ha.
Theo ông Phương, kết quả bước đầu cho thấy cá nâu có khả năng thích nghi tốt với điều kiện nuôi tại địa phương, nhất là những vùng có diện tích nuôi tôm kém hiệu quả. Đây là cơ sở để Trung tâm Khuyến nông tỉnh tiếp tục theo dõi, hoàn thiện quy trình kỹ thuật và từng bước nhân rộng mô hình tại những vùng có điều kiện tương đồng.
Ông Phương cũng lưu ý, cá nâu là đối tượng có giá trị kinh tế cao nhưng cũng khá nhạy cảm với môi trường. Để nuôi thành công, người nuôi cần chú trọng ngay từ khâu cải tạo ao, lựa chọn con giống và quản lý môi trường trong suốt quá trình nuôi. Mặt khác, hiện nguồn giống cá nâu tại địa phương và các tỉnh miền Trung chưa chủ động, chủ yếu phụ thuộc vào thu gom từ tự nhiên, vì vậy cần thuần hóa cá giống trước khi đưa vào ao để cá thích nghi với điều kiện nuôi.
Bên cạnh đó, người nuôi phải thường xuyên theo dõi hàm lượng ôxy, kiểm soát khí độc dưới đáy ao và thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết để có biện pháp xử lý kịp thời. “Đối với con cá nâu, người nuôi cần quan tâm đến quản lý môi trường, nhất là khi thời tiết thay đổi đột ngột. Nếu môi trường không đảm bảo thì cá sẽ bị ảnh hưởng”, ông Phương nhấn mạnh.
