Nông nghiệp công nghệ cao phải giải bài toán đầu ra và hiệu quả đầu tư
Nông nghiệp công nghệ cao đang mở rộng với nhiều mô hình cho thấy khả năng giảm chi phí, tiết kiệm tài nguyên và nâng năng suất. Tuy nhiên, chi phí đầu tư lớn, sản xuất manh mún và thị trường chưa sẵn sàng trả thêm cho giá trị gia tăng vẫn khiến việc nhân rộng gặp khó.
Ngày 5/10, Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) công bố Top 10 Công ty uy tín ngành Nông nghiệp Công nghệ cao năm 2026. Kết quả được xây dựng dựa trên năng lực tài chính, uy tín truyền thông và khảo sát các đối tượng nghiên cứu, các bên liên quan, với dữ liệu cập nhật đến tháng 9/2026.

Nông nghiệp công nghệ cao đã tạo ra hiệu quả rõ rệt tại một số địa phương và mô hình.
Theo Vietnam Report, nhiều doanh nghiệp đang tăng ứng dụng công nghệ vào sản xuất và quản trị. Nhưng một mô hình vận hành tốt chưa chắc có thể nhân rộng nếu chi phí đầu tư cao, đầu ra không đủ bù phần giá trị tăng thêm hoặc thời gian hoàn vốn kéo dài.
Xu hướng đầu tư trên thế giới cũng cho thấy sự sàng lọc ngày càng rõ. Theo Báo cáo Đầu tư AgriFoodTech Toàn cầu 2026 của AgFunder, các startup công nghệ nông nghiệp và thực phẩm huy động 16,2 tỷ USD trong năm 2025, giảm 3% so với năm trước. Riêng vốn vào nông trại thẳng đứng giảm từ khoảng 1,49 tỷ USD năm 2021 xuống 264 triệu USD năm 2025 do chi phí xây dựng và điện năng cao.
Điều này cho thấy công nghệ cuối cùng vẫn phải được đo bằng hiệu quả kinh tế. AI, cảm biến, giống mới, robot hay tưới chính xác chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp giảm đầu vào, nâng chất lượng, hạn chế rủi ro hoặc cải thiện lợi nhuận.
Tại Việt Nam, chín tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, thấp hơn mức tăng 9,02% của GDP. Tỷ trọng khu vực này trong nền kinh tế giảm từ 11,30% cùng kỳ năm trước xuống 10,65%.
Trong khi đó, một số mô hình ứng dụng công nghệ đã cho thấy hiệu quả. Đến giữa năm 2025, cả nước có khoảng 112.300 ha nhà lưới, nhà kính và nhà màng, tăng mạnh so với 4.100 ha năm 2016, cùng gần 7.000 UAV được sử dụng trong sản xuất.
Tại Lâm Đồng, đến đầu năm 2026 có hơn 107.300 ha sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chiếm gần 40% diện tích gieo trồng. Việc sử dụng nhà kính, tưới chính xác, cảm biến, IoT và số hóa quy trình giúp nhiều mô hình giảm khoảng 20% phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, tiết kiệm 30 đến 50% nước tưới, trong khi lợi nhuận có thể tăng hơn gấp đôi.
Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng ghi nhận kết quả bước đầu. Đến tháng 4/2026, vùng chuyên canh đạt 942.357 ha. Tại những diện tích áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững, lượng giống giảm 30 đến 50%, phân bón hóa học giảm 20 đến 30%, năng suất tăng khoảng 5 đến 12% và lợi nhuận tăng thêm 1,5 đến 9,3 triệu đồng mỗi ha mỗi vụ.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa các mô hình đi trước và mặt bằng sản xuất vẫn lớn. Hơn 70% số hộ sử dụng đất nông nghiệp có diện tích dưới 0,5 ha, trong khi chỉ khoảng 3,26% số hộ thực hiện liên kết. Khảo sát của Vietnam Report cũng cho thấy 61,5% doanh nghiệp coi chi phí đầu tư công nghệ cao trong khi thị trường chưa sẵn sàng chi trả là rào cản lớn nhất. Có 55,4% gặp khó do thiếu nhân lực có kỹ năng liên ngành và 46,2% chịu sức ép từ thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu.
Với quy mô sản xuất phân tán, việc phổ cập công nghệ khó thể dựa vào khả năng đầu tư riêng lẻ của từng hộ. Một hướng đi là phát triển các dịch vụ dùng chung thông qua hợp tác xã, doanh nghiệp và đơn vị cung cấp dịch vụ. Người sản xuất có thể tiếp cận máy móc, tưới tiêu, kỹ thuật, dữ liệu và kiểm soát chất lượng theo vụ hoặc diện tích thay vì phải bỏ vốn sở hữu toàn bộ thiết bị.
Tài chính xanh có thể bổ sung nguồn lực, nhưng doanh nghiệp vẫn phải chứng minh được dòng tiền, hiệu quả đầu tư và kết quả môi trường có thể kiểm chứng. Vì vậy, nông nghiệp công nghệ cao không nên được đo bằng số máy móc hay diện tích nhà kính. Điều quyết định là công nghệ giúp giảm được bao nhiêu chi phí, sản phẩm có đầu ra hay không và mất bao lâu để thu hồi vốn. Chỉ khi giải được những bài toán này, các mô hình hiệu quả mới có cơ sở để nhân rộng.
