Thiết lập khung pháp lý bảo vệ tài nguyên dữ liệu quốc gia từ sớm, từ xa

Chiều 23/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật An ninh dữ liệu. Theo Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội, dự án Luật này sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026).

Xác lập cơ sở pháp lý để Nhà nước quản lý, kiểm soát và bảo vệ dữ liệu

Trình bày Tờ trình tóm tắt dự án Luật An ninh dữ liệu, Thượng tướng Phạm Thế Tùng, Thứ trưởng Bộ Công an cho biết, quy mô dữ liệu tại Việt Nam gia tăng nhanh, trong khi việc bảo vệ còn phân tán, thiếu tiêu chuẩn thống nhất.

Nhiều hệ thống lưu trữ dữ liệu quan trọng còn phụ thuộc tiêu chuẩn mật mã quốc tế mà Việt Nam chưa hoàn toàn làm chủ, hoặc đặt tại nước ngoài; sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và máy tính lượng tử làm phát sinh rủi ro an ninh mới, trong đó có nguy cơ dữ liệu đã mã hóa bị thu thập trái phép để chờ giải mã trong tương lai.

Bên cạnh đó, quy định về an ninh dữ liệu hiện nằm rải rác tại Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và một số văn bản khác, chưa có quy định tập trung, thống nhất về bảo vệ dữ liệu xuyên suốt vòng đời, kiểm soát chuyển dữ liệu xuyên biên giới theo mức độ rủi ro và chế tài đủ sức răn đe.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Luật nhằm xác lập cơ sở pháp lý để Nhà nước quản lý, kiểm soát và bảo vệ dữ liệu phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam hoặc liên quan đến lợi ích quốc gia; hoàn thiện pháp luật về an ninh phi truyền thống đối với dữ liệu; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trước hành vi tấn công mạng, chiếm đoạt, làm lộ, mất dữ liệu.

Đồng thời, tạo điều kiện phát triển kinh tế dữ liệu trên cơ sở quản lý theo mức độ rủi ro, hạn chế tối đa việc áp đặt nghĩa vụ không tương xứng đối với dữ liệu có rủi ro thấp.

Dự thảo Luật gồm 6 chính sách bao gồm hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên dữ liệu, xác lập chủ quyền dữ liệu quốc gia; bảo đảm an ninh dữ liệu theo cấp độ rủi ro, xuyên suốt vòng đời dữ liệu; bảo đảm an ninh trong lưu trữ và chuyển giao dữ liệu xuyên biên giới; bảo đảm an ninh dữ liệu trong nghiên cứu, phát triển, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ mới; bảo đảm an ninh dữ liệu trong phát triển kinh tế dữ liệu, đổi mới sáng tạo, tự chủ công nghệ; đa dạng hóa nguồn lực tài chính, phát triển nhân lực và thúc đẩy hợp tác quốc tế về an ninh dữ liệu.

Dự thảo Luật gồm 6 chương, 25 điều; quán triệt nguyên tắc quản lý theo mức độ rủi ro làm cơ sở duy nhất để phát sinh nghĩa vụ hành chính.

Tiếp cận quản lý theo mức độ rủi ro

Trình bày Báo cáo tóm tắt Thẩm tra sơ bộ dự án Luật, Thượng tướng Lê Tấn Tới, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cho biết, Thường trực Uỷ ban nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật An ninh dữ liệu thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng về bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh thông tin, chuyển đổi số quốc gia và đổi mới tư duy lập pháp tại Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; cụ thể hóa quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

Đồng thời, khắc phục tình trạng quy định phân tán, chồng chéo; chủ động kiểm soát, phòng ngừa, ứng phó nguy cơ lộ lọt, tấn công dữ liệu, đầu độc dữ liệu, nguy cơ từ điện toán lượng tử và rủi ro chuỗi cung ứng; thiết lập khung pháp lý bảo vệ tài nguyên dữ liệu quốc gia từ sớm, từ xa.

Về nội dung của dự thảo Luật, về cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu, Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cơ bản nhất trí với cách tiếp cận quản lý theo mức độ rủi ro tại Điều 8.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị thiết kế các cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu bảo đảm tính liên thông, tương thích hoàn toàn với 5 cấp độ an toàn hệ thống thông tin theo quy định của Luật An ninh mạng và phân loại dữ liệu theo quy định của Luật Dữ liệu; thống nhất cơ chế đánh giá, thẩm định dựa trên bản chất tập dữ liệu, không phân biệt tổ chức công hay tư; bổ sung cơ chế công nhận chứng nhận an ninh quốc tế tương đương để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; quy định rõ trách nhiệm đánh giá lại cấp độ rủi ro khi có sự biến động về quy mô, tính chất dữ liệu.

Về bảo vệ an ninh dữ liệu trong lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới, Thường trực Uỷ ban cơ bản nhất trí với nguyên tắc phân luồng rủi ro tại Điều 17. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị làm rõ phạm vi “chuyển dữ liệu ra nước ngoài” đối với dữ liệu xử lý qua nền tảng xuyên biên giới; khẳng định rõ nguyên tắc tự do lưu chuyển đối với dữ liệu Cấp độ 1, Cấp độ 2.

Đồng thời, cho phép áp dụng giải pháp kiểm soát khóa mật mã độc lập nội địa thay cho quy định bắt buộc duy trì bản sao lưu vật lý song song tốn kém tại Việt Nam nhằm tối ưu hóa chi phí tuân thủ; quy định chặt chẽ cơ chế xử lý khi nhận được yêu cầu cung cấp dữ liệu trực tiếp từ cơ quan nước ngoài không qua kênh tương trợ tư pháp.

Về giám sát, phòng ngừa, ứng phó sự cố an ninh dữ liệu, Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại rằng Chương IV dự thảo Luật đã bước đầu bao quát các hoạt động cốt lõi về giám sát, cảnh báo sớm và ứng phó sự cố.

Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị chỉnh sửa tên Chương IV để bảo đảm tính bao quát các nội dung điều chỉnh; thiết kế các điều cụ thể trong Chương này bảo đảm tính rõ ràng theo từng hoạt động; tách bạch quy định về lệnh điều phối đặc biệt trong tình huống khẩn cấp cấp quốc gia với các biện pháp hạn chế quyền thông thường; gắn chức năng của Trung tâm Quản trị an ninh dữ liệu quốc gia vào hệ thống lực lượng chuyên trách để không làm phát sinh tổ chức, bộ máy hay biên chế mới.

Tường Minh

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/thiet-lap-khung-phap-ly-bao-ve-tai-nguyen-du-lieu-quoc-gia-tu-som-tu-xa.html