Thông cao tốc từ Bắc vào Nam: Bước ngoặt lịch sử của hạ tầng giao thông Việt Nam

Chỉ trong 5 năm (2020–2025), Việt Nam đã hoàn thành và đưa vào khai thác hơn 3.000km đường bộ cao tốc, hình thành mạng lưới kết nối xuyên suốt Bắc-Nam. Đây được xem là bước ngoặt lịch sử của hạ tầng giao thông, tạo động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và mở rộng không gian phát triển vùng.

Tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử

Những ngày đầu năm 2026, ông Phạm Văn Quang (trú tại phường Long Biên, TP Hà Nội) chia sẻ niềm vui khi chuyến đi thăm người thân tại Đồng Tháp trở nên thuận lợi hơn nhiều so với trước đây.

Một đoạn tuyến thuộc dự án đường cao tốc Bắc-Nam (giai đoạn 2) vừa được thông xe góp phần nối liền mạch đường cao tốc Bắc-Nam, từ Cao Bằng tới Cà Mau.

Một đoạn tuyến thuộc dự án đường cao tốc Bắc-Nam (giai đoạn 2) vừa được thông xe góp phần nối liền mạch đường cao tốc Bắc-Nam, từ Cao Bằng tới Cà Mau.

“Có cao tốc Mỹ Thuận – Cần Thơ, thời gian di chuyển từ Đồng Tháp về Cảng hàng không Cần Thơ chỉ còn khoảng 1 giờ, thay vì 1,5–2 giờ như trước. Đường sá khang trang, tốc độ lưu thông nhanh, chuyến đi vừa an toàn, vừa tiết kiệm thời gian”, ông Quang cho biết.

Cao tốc Mỹ Thuận – Cần Thơ chỉ là một trong nhiều “mảnh ghép” quan trọng trong bức tranh hạ tầng giao thông tại Đồng bằng sông Cửu Long được đầu tư mạnh mẽ trong 5 năm trở lại đây. Nếu như trước năm 2020, toàn khu vực mới chỉ có khoảng 40km cao tốc thuộc tuyến Trung Lương – Mỹ Thuận, thì đến nay, chiều dài đã tăng thêm hơn 220km, với hàng loạt dự án như: Mỹ Thuận – Cần Thơ, cầu Mỹ Thuận 2, Cần Thơ – Hậu Giang, Hậu Giang – Cà Mau, Cao Lãnh – Lộ Tẻ, Lộ Tẻ – Rạch Sỏi, cao tốc Bến Lức – Long Thành (đoạn qua tỉnh Long An cũ)…

Theo ông Nguyễn Thế Minh, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế – Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), giai đoạn 2020–2025 là thời kỳ hệ thống đường bộ cao tốc Việt Nam phát triển nhanh nhất từ trước đến nay, đánh dấu bước đột phá mang tính lịch sử cả về quy mô đầu tư, tốc độ thi công, chiều dài đưa vào khai thác và hiệu quả đầu tư.

Trước đó, giai đoạn 2001–2010, cả nước mới đưa vào khai thác 89km đường cao tốc. Sang giai đoạn 2011–2020, nhờ Nghị quyết số 13-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, khoảng 1.074km cao tốc tiếp tục được hoàn thành, nâng tổng chiều dài toàn mạng lưới đến hết năm 2020 lên 1.163km.

Bước sang nhiệm kỳ 2021–2025, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về ba đột phá chiến lược, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành hàng loạt cơ chế đặc thù nhằm rút ngắn thủ tục đầu tư, cho phép chỉ định thầu, giao mỏ vật liệu trực tiếp cho nhà thầu và phân cấp mạnh cho địa phương làm cơ quan chủ quản. Nhờ đó, hàng loạt dự án cao tốc được khởi công đồng loạt, tạo nên làn sóng đầu tư hạ tầng chưa từng có.

Chỉ trong 5 năm (2020–2025), Việt Nam đã hoàn thành và đưa vào khai thác hơn 3.000km đường bộ cao tốc, hình thành mạng lưới kết nối xuyên suốt Bắc-Nam.

Chỉ trong 5 năm (2020–2025), Việt Nam đã hoàn thành và đưa vào khai thác hơn 3.000km đường bộ cao tốc, hình thành mạng lưới kết nối xuyên suốt Bắc-Nam.

Từ mốc 1.163km năm 2020, chỉ trong vòng 5 năm, đến hết năm 2025, tổng chiều dài tuyến chính đường bộ cao tốc hoàn thành, thông xe đạt 3.188km và đạt 3.513km nếu tính cả nút giao và đường dẫn. Đây là tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử ngành giao thông vận tải Việt Nam.

Hình thành trục liên kết cảng biển – sân bay – cửa khẩu

Theo Vụ Kế hoạch – Tài chính (Bộ Xây dựng), các tuyến cao tốc sau khi đưa vào khai thác đã mang lại hiệu quả rõ rệt về kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, đồng thời góp phần xóa đói, giảm nghèo tại nhiều địa phương.

Các nghiên cứu cho thấy, sau khi có cao tốc, thu ngân sách nội địa bình quân của các tỉnh đều tăng, trong đó bao gồm nguồn thu từ hoạt động sản xuất – kinh doanh.

Nhiều tuyến cao tốc theo các hành lang phát triển kinh tế đã phát huy hiệu quả rõ nét. Đơn cử, tuyến Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội đến Hạ Long xuống còn khoảng 1,5 giờ, qua đó hình thành trục liên kết cảng biển – sân bay – cửa khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ các lĩnh vực du lịch, logistics và công nghiệp ven biển.

Tuyến Đà Nẵng – Quảng Ngãi giúp giảm thời gian vận chuyển, nâng cao an toàn giao thông, hỗ trợ hiệu quả chuỗi cung ứng các khu công nghiệp miền Trung. Trong khi đó, tuyến TP.HCM – Trung Lương – Mỹ Thuận rút ngắn thời gian di chuyển còn khoảng 1 giờ 45 phút, góp phần giảm chi phí vận chuyển nông – thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long. Tác động lan tỏa thể hiện ở việc gia tăng lưu lượng phương tiện, giảm ùn tắc trên các quốc lộ song hành và tăng sức hấp dẫn đầu tư tại các khu công nghiệp, nút giao dọc tuyến.

Mở không gian phát triển mới, xóa khoảng cách vùng miền

Việc đầu tư cao tốc được xác định không chỉ nhằm kết nối giao thông, mà còn mở ra không gian phát triển kinh tế mới. Thực tế cho thấy, nhiều địa phương có cao tốc đi qua ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân cao hơn mức trung bình của cả nước.

Những công trình tạo không gian phát triển mới cho Đồng bằng Sông Cửu Long.

Những công trình tạo không gian phát triển mới cho Đồng bằng Sông Cửu Long.

Theo ông Phạm Hữu Sơn, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Tư vấn thiết kế GTVT (TEDI), trong giai đoạn 2011–2019, tốc độ tăng GRDP bình quân của nhiều địa phương có cao tốc đạt mức cao, như: Lào Cai 10,23%/năm, Yên Bái 7,15%/năm, Phú Thọ 8,06%/năm, Hải Phòng 12,89%/năm, Quảng Ninh 9,91%/năm, Hải Dương 8,62%/năm, Tiền Giang 6,88%/năm, Long An 10,23%/năm…, trong khi tốc độ tăng GDP bình quân của cả nước chỉ khoảng 6,3%/năm.

Tính chung, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011–2019 của cả nước đạt khoảng 1,19%/năm, trong khi các tỉnh có đường cao tốc đạt khoảng 1,31%/năm.

Tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, việc kết nối các tuyến cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, Hải Phòng – Hạ Long – Vân Đồn – Móng Cái không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển mà còn hình thành tam giác kinh tế phía Bắc, thúc đẩy sự bùng nổ của chuỗi logistics tại Cảng Lạch Huyện và phát triển du lịch, dịch vụ chất lượng cao tại Quảng Ninh.

Ở phía Nam, các tuyến TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây kết nối với Cảng Cái Mép – Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) giúp giảm chi phí vận tải container, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế cho các cảng nước sâu. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, các tuyến TP.HCM – Trung Lương, Trung Lương – Mỹ Thuận, Mỹ Thuận – Cần Thơ đã giải quyết tình trạng ùn tắc kéo dài, tăng tốc độ lưu thông hàng hóa nông sản và tạo điều kiện hình thành các khu đô thị vệ tinh, dịch vụ mới dọc tuyến.

Không chỉ tác động đến sản xuất – lưu thông, hệ thống cao tốc còn thúc đẩy mạnh mẽ phát triển du lịch. Điển hình, sau khi tuyến Hà Nội – Hải Phòng đưa vào khai thác năm 2019, lượng khách du lịch đến Hải Phòng tăng 1,63 lần so với năm 2015; Quảng Ninh tăng 1,8 lần khi tuyến Quảng Ninh – Hải Phòng hoàn thành; Lào Cai ghi nhận lượng khách tăng 2,43 lần sau khi tuyến Nội Bài – Lào Cai đi vào khai thác.

Tăng sức hút đầu tư, trụ cột ổn định tăng trưởng dài hạn

Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa nhận định, việc hoàn thành mục tiêu hơn 3.000km đường cao tốc là dấu ấn chiến lược, thể hiện sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự quyết liệt của Chính phủ và vai trò giám sát của Quốc hội.

Mốc 3.000km cao tốc được xem là bước ngoặt lịch sử của hạ tầng giao thông, tạo động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và mở rộng không gian phát triển vùng.

Mốc 3.000km cao tốc được xem là bước ngoặt lịch sử của hạ tầng giao thông, tạo động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và mở rộng không gian phát triển vùng.

Hạ tầng giao thông được đầu tư đồng bộ đã giúp giảm đáng kể chi phí logistics, rút ngắn thời gian di chuyển và nâng cao sức cạnh tranh trong thu hút đầu tư. Khi giao thông đi trước một bước, sẽ tạo nền tảng để phát triển đồng bộ các lĩnh vực khác như viễn thông, giáo dục, y tế.

Nhiều địa phương hiện đã chủ động chuẩn bị quỹ đất, nguồn nhân lực và hạ tầng phụ trợ để đón làn sóng đầu tư mới. Khi giao thông thuận tiện, các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, không còn chỉ tập trung vào các đô thị lớn mà bắt đầu dịch chuyển sang các tỉnh lân cận và khu vực miền Tây – nơi có lợi thế về quỹ đất và chi phí đầu tư thấp hơn.

Đáng chú ý, nhiều địa phương đã thay đổi tư duy phát triển, không coi bất động sản là động lực dài hạn, mà tập trung phát triển khu – cụm công nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện hạ tầng viễn thông, nâng cao chất lượng giáo dục và y tế, hướng tới nền tảng tăng trưởng bền vững.

Theo chuyên gia kinh tế, TS Lê Xuân Nghĩa, việc hoàn thành hơn 3.000km cao tốc, cùng với việc đồng loạt khởi công hàng trăm dự án đầu tư trên phạm vi cả nước, không chỉ là dấu mốc về phát triển hạ tầng mà còn tạo ra xung lực kinh tế đa tầng, tác động sâu rộng tới tăng trưởng.

Trong ngắn hạn, đầu tư hạ tầng mở rộng tổng cầu, kéo theo nhu cầu lớn về vật liệu xây dựng, máy móc, nhân công, dịch vụ tư vấn, vận tải và tài chính, qua đó kích hoạt mạnh mẽ các ngành thép, xi măng, cơ khí, logistics.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, đầu tư công, đặc biệt là đầu tư hạ tầng giao thông chiến lược, trở thành trụ cột ổn định tăng trưởng. Về dài hạn, một mạng lưới cao tốc liên thông, đồng bộ Bắc – Nam và kết nối vùng sẽ là lợi thế cạnh tranh quốc gia, giúp Việt Nam hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư quốc tế.

Hệ thống cao tốc không chỉ là những tuyến đường, mà còn là công cụ tái cấu trúc không gian kinh tế, tạo điều kiện để dòng vốn, lao động và công nghệ dịch chuyển về các địa phương còn nhiều dư địa phát triển, góp phần giảm chênh lệch vùng miền, nâng cao chất lượng sống của người dân và mở ra chu kỳ tăng trưởng mới, bền vững và có chiều sâu cho nền kinh tế Việt Nam.

Phi Long/VOV.VN

Nguồn VOV: https://vov.vn/xa-hoi/thong-cao-toc-tu-bac-vao-nam-buoc-ngoat-lich-su-cua-ha-tang-giao-thong-viet-nam-post1268290.vov